Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

THẤT LẠC


1.
Buổi sáng thứ bảy đó cũng bình thường như những sáng khác. Anh nghỉ việc ở công ty và đưa nàng ra chợ. Chợ chỉ cách nơi họ ở chưa đến 1km, anh đưa nàng bằng một chiếc xe máy cũ và đứng đợi nàng dưới bóng mát của cây điệp bên đường. Một người phụ nữ ôm chồng báo đi qua, anh mua một tờ và đọc cho hết thời gian chờ đợi. Những người bán vé số mời mọc. Xe chạy ầm ầm bên đường. Anh đã đọc hết tờ báo mà chẳng nhớ được gì. Ở công ty, nhiều khi việc làm rảnh rổi anh mới liếc sơ một tờ báo nào đó gần nhất và không để ý đến những tờ khác vì thường tin tức trên các báo gần như nhau.
Nắng đã lên khá cao. Chợt anh giật mình vì vẫn chưa thấy nàng đi ra. Những lần trước giờ này nàng đã xong việc. Anh sốt ruột nhìn đồng hồ. Gần 10 giờ. Nàng đã vào chợ khá lâu. Hơn 2 tiếng đồng hồ!
Nhấp nha nhấp nhổm, trên yên xe, anh nổ máy. Băng qua đường, đứng gần cổng chợ nhìn vào. Người ta vẫn ra vô tấp nập. Nhưng sao nàng đi lâu vậy? Náng ghé vào một tiệm làm tóc? Vô lý. Anh biết rõ tính vợ và chuyện này không thể xảy ra. Hay nàng bị trúng gió thình lình? Thỉnh thoảng anh vẫn thấy những phụ nữ bị trúng gió khi đi chợ. Ý nghĩ ấy làm anh phát hoảng, anh đẩy xe vào chỗ gửi. Vội vàng cầm thẻ và gần như chạy vào trong chợ.
Anh vượt qua, nghiêng ngó sơ các cửa hàng bán quần áo. Anh dừng lại khá lâu ở quầy bán rau. Anh chen lấn và quan sát tất cả các quầy bán cá, bán thịt. Vẫn không thấy gì. Anh ngó về phía một gian hàng bán thuốc tây. Gian hàng chỉ có một người đàn ông đứng tuổi có chiếc đầu hói bóng loáng đứng bán. Không có khách hàng. Cuối cùng anh rụt rè hỏi bà cụ ngồi bán gạo lẻ rằng có người phụ nữ bị trúng gió hay tại nạn gì không. Bà cụ lắc đầu, sau đó nhìn anh chăm chú nhưng vẫn lắc đầu bảo hôm nay không có ai bị gì, không có chuyện gì đặc biệt xảy ra ở đây. Quanh quẩn, qua lại một hồi anh đành quay trở ra, hy vọng vợ đang đứng chờ chỗ anh đậu xe lúc nảy. Không có ai chỗ gốc điệp. Anh buồn bã ra bãi lấy xe và trở về căn phòng trọ một mình với một chút hy vọng rằng nàng bỗng giận anh một điều gì đó và đi bộ về trước.
Anh nhớ đêm hôm trước khi nhờ vợ gãi lưng, nàng nhìn thấy một vết trầy phía sau vai. Vết trầy đó rướm máu và chính tay anh đã tự cào mình trong đêm. Nhiều khi anh thức dậy, thấy trên ngực mình có những vết trầy xước do chính tay mình cào. Anh bị nghẹt mũi kinh niên và có thể đó là hậu quả của những cơn ngừng thở trong giấc ngủ. Thế nhưng vợ anh đã như nửa đùa nửa thật hỏi: “Ai cào anh vậy?”, anh nghĩ đó chỉ là câu đùa vớ vẩn nên không trả lời. Lẽ nào chỉ vì một chuyện như vậy?
Cả buổi trưa anh không ăn gì. Đến 2g chiều, bụng cồn cào quá, anh ra đầu hẻm ăn hủ tíu gõ. Đến chiều tối nàng vẫn bặt tăm. Suốt đêm anh chập chờn, lo lắng. Căn phòng nhỏ họ từng sống với nhau trong nỗi đam mê giờ vắng lặng. Anh đã gọi điện thoại nhiều nơi, chỉ trừ nhà nàng vì anh không dám. Nàng vào chợ chỉ với một cái bóp nhỏ đựng một ít tiền. Tất cả đồ đạc, tư trang còn nguyên vẹn. Nhưng nàng biến mất vào lúc nào? Đi bằng cổng sau hay ra cổng trước của chợ?
Anh nghĩ đến chuyện báo công an nhưng ngay lập tức dẹp tan ý nghĩ đó. Họ sống với nhau mà chưa đăng ký kết hôn. Gia đình nàng không thích anh. Bao nhiêu là rắc rối nếu anh báo chính quyền về chuyện nàng mất tích? Và nếu gia đình nàng làm lớn chuyện thì sao?
2.
- Tôi tên Nguyễn Văn Nam. Tôi đến để trình báo về việc vợ tôi mất tích không rõ lý do.
- Vợ anh là ai? Anh ở đâu? Bà ấy đi lúc nào?
- Dạ, khi tôi đi làm phụ hồ về thì bả đã đi mất, tui không biết đi từ lúc nào.
- Anh có đánh đập gì bà nhà không? Hai người có xích mích gì không?
- Dạ không. Hằng ngày tui đi làm từ sớm. Bả…
- Thôi được rồi, anh để giấy tờ đó rồi về đi.
...
Đơn trình báo về việc mất tích
Kính gửi UBND Quận X
Tôi tên Trần Hoàng Hoa, 52 tuổi. Hiện ngụ tại đường…
Tôi làm đơn này để báo cho chính quyền biết việc vợ tôi là Trần Thị Lệ Thủy, bỏ nhà ra đi vào ngày… không rõ lý do vì sao bà ấy bỏ tui!
Rất mong được các cơ quan chức năng xác minh, làm rõ và giúp tui tìm lại vợ!
...
Anh bước ra khỏi đồn công an lòng càng nặng nề hơn. Anh không để lại lá đơn do chính mình viết.
***
3.
….
31.3.2012
N.Đ.B.

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

CON SẺ HÓT TIẾNG HỌA MI



Anh dỏng tai, hết sức chú ý lắng nghe. Rõ ràng là tiếng họa mi. Lần này thì không thể nhầm lẫn nữa. Thật nhẹ nhàng anh rời khỏi giường, len lén đi về phía cửa sau, tai vẫn hết sức lắng nghe tiếng “đi gió” đặc thù chỉ riêng loài chim hót  nổi tiếng này có được. Nép sau cánh cửa trên gác, anh nhìn về phía phát ra âm thanh ấy. Và đúng như anh nghi ngờ: trên một cây ăng ten truyền hình còn sót lại của nhà bên cạnh, “nó” đang đứng phồng cổ hót. Kỳ lạ thay, “nó” không phải là một con họa mi, nó chỉ là một con chim sẻ!

***

Anh đã có một thời mê chim hót như mê gái. Lúc đầu thích nghe tiếng chích chòe nên mua vài con “than” về nuôi. Sau đó muốn nghe giọng “suối reo, thác đổ” của rừng miền Đông anh lại mua thêm vài con “lửa” với những cái đuôi dài thậm thượt. Rồi khướu, rồi vành khuyên, sơn ca, yến hót… và cuối cùng dừng lại ở giống chim mà cả anh và những tay chơi kỳ cựu đều chung nhận xét: vua của các loài chim hót – họa mi!

Nói chung chơi chim, cũng như “chơi” những thứ khác, nó cũng có đầy đủ hỷ nộ ái ố của thú đam mê. Sáng sớm vọt xe đi mua cào cào, hửng nắng lên thì mang chim ra tắm, hốt cứt chim, tối trùm áo cho chim ngủ… thôi thì trăm thứ nhiêu khê khổ ải… chỉ  để nghe được giọng hót mê ly của các… chàng (các loài chim mái phần lớn không hót, họa mi thì càng không).



Mà quả thật tiếng hót họa mi vô cùng đặc biệt. Với những giống chim khác nuôi lâu ngày, ví dụ như chích chòe, bạn có thể biết trước được giai điệu, tiết tấu, âm vực… mà con chim đang và sẽ hót, với họa mi thì không. Họa mi có thể bất ngờ vút lên một chuỗi âm thanh lảnh lót, sau đó hạ xuống một nốt trầm như vực thẳm, rồi tiếng “đi gió” trong những trưa vắng như thầm thì, nỉ non, ru ngủ… Nếu có nhiều lồng chim để cách nhau một khoảng cách vừa phải, và không nhìn thấy nhau, các con chim sẽ đua nhau trổ tài, và lúc ấy dù có thể hai, ba hoặc nhiều con cùng hót nhưng đó không phải là những âm thanh trùng lặp, hổn loạn mà nó giống như một dàn nhạc đang hòa tấu một cách có chủ đích. Buổi sáng họa mi thường cất tiếng rất sớm, khi những tia sáng đầu ngày chưa hình thành. Còn với riêng anh, tiếng chim chiều mới là tiếng hót hay thăm thẳm. Những buổi chiều khi nắng đã dần phai, lúc đó ngồi một mình anh có thể hoàn toàn chìm đắm vào âm thanh của đàn chim trong lồng. Tiếng hót lúc đó da diết một cách tổn thương. Ôi, tiếng chim trong lồng! Những âm thanh hoang dã hay chỉ là ẩn ức, đè nén trong ngục tù vàng son thừa mứa. Vậy sao anh không thả cho chúng bay xa?

Thực ra không thể thả một con chim đã nuôi lâu đến có thể cất tiếng hót trong lồng bởi khi ấy chim đã hoàn toàn phụ thuộc vào chủ. Một con chim cảnh sổ lồng cũng đồng nghĩa với việc sẽ mất mạng vì đói khát hay làm mồi cho đám mèo hoang rình rập trên những nóc nhà thành phố. Nhưng rồi có một ngày anh đã ứa nước mắt thả gần hết đàn chim, trong đó có những con họa mi yêu nhất của mình. Anh nhớ hôm đó là một ngày chuyển mùa. Những cơn mưa cuối tháng tư bắt đầu xua tan cái ngột ngạt của những ngày nắng nóng phương nam. Anh chạy xe đi đâu đó qua những con đường ngập sắc đỏ của “cờ chiến thắng” trong một tâm trạng trống rỗng tuyệt vọng. Rồi anh dự tính ghé nhà một người bạn ở gần ga Sài Gòn, người bạn đó cũng là một bậc thầy về chim hót để mong giải tỏa bớt cái tâm trạng u uất của mình. Thế nhưng ngay lúc đó anh nghe cái điện thoại trong túi mình đổ chuông. Cẩn thận tấp xe vào lề, lấy điện thoại ra và nhìn thấy tên người gọi là vợ mình. Bật điện thoại anh nghe tiếng cô hốt hoảng: “Anh về mau, nguy rồi. Người ta đang tới bắt hết chim rồi anh ơi!”. Anh mau chóng hiểu ra mọi sự và quay đầu xe, phóng vùn vụt về nhà. Cả tuần nay báo chí nói về dịch cúm gia cầm và việc chính quyền thành phố sẽ tiêu hũy tất cả những vật nuôi có cánh trong khu vực nội đô. Nhưng anh và các bạn mình không nghĩ họ sẽ tiêu hũy cả chim cảnh vì không tin với điều kiện nuôi nhốt từng lồng riêng biệt và chăm sóc kỹ càng, chim cảnh có thể lây H5N1. Khi anh về đến nhà, anh đã thấy lố nhố trước sân có rất nhiều người đàn ông trong đó có cả công an khu vực. Anh quăng xe, lao vào trong sân và bàng hoàng nhìn thấy họ đã lấy rất nhiều lồng chim của mình xuống, đặt trên mặt sân và đang bắt một số chim ra. Bày ra trước mắt anh là một cảnh tượng kinh hoàng. Một cái bao loại 50kg đựng vôi bột mở sẵn, trong đó đã có một số con chim của anh bị bẻ cổ, bẻ cánh nằm giãy dụa. Gần như bất chấp sự đông đúc của những người xung quanh, anh lao tới những lồng chim vẫn còn xao xác tiếng chim hốt hoảng và giật tung cửa lồng, bẻ gãy các nang tre cho các cánh chim vút bay vào vùng tự do trước sự thảng thốt của đám người nhân danh thi hành công vụ….

Sau sự cố kinh hoàng ấy, anh buồn kinh khủng. Trong cái không khí hốt hoảng đầy huyễn tưởng của cả nước về một đại dịch kinh hoàng có khả năng xóa sổ hàng triệu người, anh cũng không chắc là hành động của mình hôm đó đúng hay sai nhưng bạn bè chơi chim của anh rất nhiều người đã phản ứng tương tự như vậy. Một tháng rồi vài tháng trôi qua, đại dịch đã không xảy ra. Người ta đã bắt đầu ăn thịt gia cầm trở lại. Những ai kịp đem giấu các lồng chim cảnh vào một nơi bí mật nào đó giờ không thấy chính quyền đả động gì nữa lại rụt rè mang ra để nghe chim hót. Chỉ có bầy chim của anh là hoàn toàn tuyệt tích. Những con chim đã chết thì không nói, những con được tháo củi sổ lồng cũng tuyệt mù không biết số phận ra sao bởi anh biết Sài Gòn không phải là vùng đất mà họa mi có thể sinh sống tự nhiên và sợ rằng những con chim kia đã làm mồi cho mèo hoang hoặc chết đói…

Thế nhưng một buổi sáng, đang ngồi một mình uống cà phê quán cóc đầu hẻm thì anh thấy vụt qua mắt mình một đôi cánh chao sát xuống vệ đường. Rồi một con chim lao xuống, đuổi theo con gián đang bò trên nắp cống. Anh gần như đứng bật dậy nhìn theo. Đó là một con họa mi nhưng cực kỳ xấu xí vì ốm đói. Khi con chim nhảy lò cò đuổi theo con gián, anh nhìn thấy rõ nó run rẩy trong cơn tuyệt vọng vì miếng mồi đang dần tuột khỏi tầm mắt. Con gián đã chui tọt vào ống cống!



Anh quan sát con chim. Nó đã hoàn toàn trụi lông, giờ đây đầu nó nhô ra một cái sọ tròn như viên bi ngà ngà trắng. Lông bụng cũng rụng gần hết kéo dài đến đùi làm đôi chân khẳng khiu của nó càng ốm yếu. Có vẻ như nó đang kiệt sức. Thế nhưng khi anh tiến lại gần, nó cảnh giác vỗ đôi cánh xác xơ, bay lên bụi sơ ri rậm rạp của nhà bên cạnh. Anh trả tiền cà phê, vào nhà lấy xe chạy nhanh qua nhà người bạn và mượn một cái lồng bẫy sau đó ghé Ngã Sáu mua một bịch cào cào. Anh biết con chim đang kiệt sức vì đói và nó sẽ không bay đi xa. Đúng như dự đoán, khi nhìn thấy những con cào cào mơn mởn treo trên cành sơ ri, con họa mi ốm đói lao vào và sập bẫy.

Những ngày sau đó, bằng tất cả kinh nghiệm nuôi chim của mình, anh cố gắng cứu mạng sống của nó. Cào cào non, sâu qui, gạo trứng… liên tục được bồi dưỡng và con chim cũng dần hồi sức. Khi mùa mưa dần qua, nó đã có thể mở miệng hót lên vài giai điệu. Anh nghe tiếng hót rất quen, như thể nó là một trong những con chim anh từng thả ra, nhưng cũng không chắc chắn là hoàn toàn đúng. Thế nhưng dù có bồi dưỡng toàn những món mồi béo bở cho chim, ngay cả chịu tốn tiền mua liu điu cho nó ăn hằng ngày, lông đầu và bụng của nó vẫn không thể mọc ra, thành ra có thể xem nó là một con họa mi cực kỳ xấu xí. Bù lại con chim càng ngày càng siêng hót và chừng ba tháng sau ngày nó được cứu sống và tiếp tục cuộc đời trong những nan lồng, nó bỗng dưng trở thành một con chim đặc biệt, khi mà bất kể lúc nào, trừ khi nó ngủ, hễ anh mở áo lồng ra là nó cất giọng. Mà cái giọng sau khi phục sinh này mới thật là độc đáo. Chỉ trừ khi nó nhấm nháp vài miếng mồi hay chút nước, còn tất cả thời gian hầu như nó dành để hót. Lên bỗng, xuống trầm, du dương, réo rắt. Đôi lúc như tiếng thét gào, có khi chỉ là những âm thanh thầm thỉ… Cứ vậy, tiếng hót cứ tuôn ra từ cái mỏ nhỏ kia tưởng chừng như suối chảy, giờ này qua giờ khác, liên tu bất tận làm kinh ngạc tất cả những người sành sỏi về thú chơi chim. Sợ con chim kiệt sức, anh chỉ có cách trùm kín áo lồng, đem treo vào nơi ít ánh sáng để nó ngỡ trời đã tối mà nằm im nhưng chỉ được vài bữa, ngay cả trong bóng tối nó vẫn cứ hót. Thật ra đôi khi đó không phải là tiếng hót, mà là những tiếng kêu gào lanh lảnh, như thể muốn thoát ra, tháo củi sổ lồng thêm một lần nữa hay là tiếng gọi đàn từ trong sâu thẳm của bóng đêm? Khi đó vợ anh cũng vừa sinh đứa con đầu lòng, nhà thì chật mà tiếng chim lại cứ lảnh lót làm đứa bé cứ giật mình thảng thốt. Anh đang làm việc tại một chi nhánh của một tờ tạp chí, ông sếp, là một nhà thơ cũng dễ tính và chỗ thân tình, nên khi anh ngỏ lời muốn mang con chim tới treo tại chỗ làm, sếp gật đầu, còn nói: “Có tiếng chim còn vui chứ sao”.

Đến nơi ở mới con chim ít hót vài ngày làm anh cũng mừng nhưng rồi một tuần sau mỗi khi mở áo lồng là nó lại líu lo suốt buổi. Tòa soạn cũng khá rộng, nhân sự lại ít vì chỉ là một tạp chí chuyên ngành nên cũng không có vấn đề gì, thậm chí tiếng chim còn làm vui hơn, như ông sếp nói, cho những tâm hồn đôi khi khô cằn vì sách.

Một hôm có một nhà thơ từ hải ngoại về ghé thăm sếp anh để bàn chuyện xin giấy phép in cho ông ta một tập thơ phát hành trong nước. Anh có đọc nhà thơ này và đây là một trong những thi tài mà anh ngưỡng mộ. Ông đã rất nổi tiếng từ trước năm 1975 và sau khi sống lưu vong tại hải ngoại vẫn tiếp tục bền bĩ viết và  cách tân thơ mình nên được rất nhiều bạn đọc mến mộ. Dĩ nhiên là anh rất vui khi được trực tiếp gặp gỡ và tiếp chuyện với một nhà thơ đã biết tiếng từ lâu. Ông sếp, anh và nhà thơ nói chuyện rất thân tình. Đó là một người đàn ông khá điềm đạm, ăn nói nhỏ nhẹ. Đang lúc đó thì con họa mi cất tiếng. Nó bắt đầu bằng một tràng lảnh lót, sau đó chuyển giọng kim rồi trầm giọng thổ. Chỉ một mình nó nhưng như thể có vài ba con cùng hót. Lồng chim treo ở hành lang khá gần nên làm khách chú ý. Nhà thơ dừng nói, im lặng lắng tai nghe. Con chim vẫn cứ mê mải hót, chắc nó không hề biết mình vừa cắt ngang một cuộc đàm luận thanh cao về tương lai của nền thi ca dân  tộc. Nhà thơ bỗng hỏi: “Tấn (tên sếp anh) nuôi con chim gì mà hót hay vậy?”. Sếp nhìn qua anh: “Dạ, chim của Bình nuôi, không phải của em”. Nhà thơ nhìn anh: “Hót hay quá, chim gì vậy Bình?”. “Dạ, là họa mi đó anh”. Anh trả lời nhà thơ, lòng hơi hụt hẩng chút xíu vì anh nhớ từng đọc một bài thơ của chính ông nói về tiếng chim họa mi. Hóa ra ông cũng chỉ là tưởng tượng chứ chưa nghe tiếng họa mi bao giờ. Chim vẫn hót, nhà thơ vẫn say sưa nghe, anh và sếp ngồi yên, không biết nói gì. Rồi nhà thơ bỗng đề nghị: “Hay là Bình mua giúp anh vài con như vậy, anh lén đem về Mỹ nuôi nghe nó hót chơi”. Anh suýt phì cười vì sự ngây thơ của nhà thơ. Đem một con chim hoang dã từ khu vực có cúm gia cầm về Mỹ. Có mà ở tù mục xương.

Sau chuyến thăm của nhà thơ một thời gian, một sáng thứ hai anh đến tòa soạn làm việc như thường lệ. Hôm đó anh được giao biên tập một cuốn sách nên mê mải làm đến gần trưa mới giật mình nhớ là không hề nghe tiếng chim quen thuộc. Khi anh vội vã ra hành lang, nhắc cái lồng xuống thì thấy con họa mi đã nằm cứng đơ trên tấm lót đáy lồng. Chắc nó chết từ đêm qua. Hai bên mép ứa máu đầy kiến bu…

***


Đã gần mười năm trôi qua. Giờ anh đã thôi làm việc tại chỗ cũ và cũng dời nhà ra một quận ngoại thành. Hai đứa con  ra đời, lớn lên, học hành… đã làm anh không còn thời gian cho thú chơi chim xa xỉ. Thỉnh thoảng đi ngang qua những tiệm bán chim cảnh, anh dùng dằng chạy xe thật chậm, tai vểnh lên còn lòng bồi hồi khi nghe những âm thanh quen thuộc. Nhưng cũng như tình yêu, có sâu đậm mấy lâu dần rồi cũng quên, anh không còn có ý muốn khi rảnh rổi lại mua chim về nuôi nữa, cho đến những buổi trưa vừa qua, khi lại nghe tiếng “đi gió” của loài chim một thời anh đắm say… Anh tưởng đó là một con họa mi sổng chuồng của ai nhưng cuối cùng phát hiện ra nó chỉ là một con chim nhại. Lại cũng như tình yêu văn chương, cái hay của thiên hạ không phải cái hay của mình khi lặp lại. Anh vung tay, liệng viên gạch vỡ. Con chim bay vụt đi. Anh chẳng còn tâm trạng tò mò cũng như hứng thú nghe nó hót nữa. Dù tiếng “đi gió” đó giống đến nỗi làm lòng anh cồn lên bao kỷ niệm nhưng đó chẳng qua chỉ là tiếng nhại giọng của một con chim sẻ…

(Trong tập KIỀU- NXB Sống- Hoa Kỳ 2014) 

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

KIẾP BÈO



Cách đây không lâu lắm thành phố C. còn có một nhánh sông cắt ngang. Dù chỉ là một nhánh phụ của con sông cái nhưng vì chảy ngang qua thị thành, nó đã trở thành một nơi chốn thần tiên cho cả tuổi thơ lẫn những đôi lứa đang kỳ hò hẹn. Dọc theo bờ sông mọc đầy cây bần là bãi tắm tuyệt vời nhất cho những đứa trẻ trong thành phố những buổi chiều. Sau đó, một vài người đến cất những căn nhà lá nhỏ ngay trên mặt sông để làm nơi sinh sống. Họ là những người nghèo khổ, tha phương cầu thực chớ không phải là dân bản địa và vì không tiền mua đất, họ phải làm liều dù ai cũng biết rằng khu đất ấy là đất công.
Thế nhưng, thành phố dần phát triển, đất hẹp người đông, nhu cầu về chỗ ở ngày một cao đã làm cho mỗi tấc đấc trở thành tấc vàng thật sự. Vậy là những cái đầu thực dụng nhìn thấy nhánh sông chảy băng qua thành phố cùng với bãi bờ của nó cả một diện tích rộng nếu được lấp đầy. Cũng không khó gì lắm để ra đời dự án thổi cát từ sông cái lên lấp nhánh sông “không cần thiết” tạo ra một mặt bằng rộng dùng cho việc lập chợ, kinh doanh. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng cũng không ai phản đối gì vì những người ngụ cư dọc theo hai bờ sông đều là dân sống bất hợp pháp. Tôi có một người bạn là kỹ sư xây dựng cũng được huy động vào đội ngũ tham gia công trình này.

* * *
Hưng kể, vì được chỉ đạo phải làm thật nhanh kể từ ngày có lịnh thi công, đội ngũ công nhân và kỹ sư gần như phải làm suốt ba ca. Có đêm, Hưng phải ngủ lại và một đêm kia, sau một chầu bia tối kéo dài tận khuya, anh thức dậy và thấy mình ngủ một mình trên võng buộc tạm vào lan can chiếc cầu mà họ dự tính sẽ giật sập trong tuần tới vì dòng sông bên dưới đang cạn dần.
 Chầu nhậu đã làm Hưng khát khô cổ và cảm thấy thèm thuốc nhưng trong túi không có sẵn hộp quẹt. Bỗng dưng Hưng nghe có tiềng thì thầm nho nhỏ như có ai đó đang trò chuyện. Anh dụi mắt, bước ra khỏi võng và vô cùng ngạc nhiên khi thấy nơi bến sông trước mặt, có một dãy ghe nhỏ che mui kín đang đậu. Từ những chiếc ghe nhỏ ấy, phát ra tiếng rì rầm và có cả ánh sáng yếu ớt của những chiếc đèn hột vịt. Dù rất ngạc nhiên vì nhánh sông ngoài kia đã gần như bị bít để thổi cát vào, những căn nhà dọc bờ sông đã giải tỏa và ghe xuồng không cách nào vào được đây nhưng không hiểu sao lúc ấy Hưng vẫn trỗi dậy, bước ra khỏi võng và đi lần xuống bến với ý nghĩ xin mồi thuốc.
Dưới bến có chừng năm bảy chiếc ghe đang neo đậu và hầu như tất cả đều chưa ngủ. Hưng bước tới chiếc ghe gần nhất và dưới ánh trăng anh nhìn thấy một ông cụ mặt bộ bà ba nâu, đầu chít khăn rằn đang ngồi đốt thuốc bên chiếc hỏa lò nhỏ le lói ánh than hồng. “Chào bác! Hưng cất tiếng”.
Ông cụ gật đầu đáp lại nhưng không hỏi gì với khách. Hưng bước đến gần hơn và nói: “Bác cho cháu mồi nhờ điếu thuốc... -Được, cậu cứ lên đây”. Ông già đã lên tiếng.
Hưng bước lên sạp phía mũi ghe, nói: “Cháu ngủ gần đây, nghe tiếng trò chuyện nên cháu mới...” “Được mà. Ngồi hút thuốc uống trà cho vui đi cậu. Gia đình chúng tôi cùng mấy bà con quanh đây sắp sửa dời đi nhưng còn đợi con nước”.
Rồi ông quay nhìn vô trong mui, lên tiếng: “Lục Bình, con đem thêm gói trà cho cha mời khách”.
Hưng hơi tò mò nhìn theo ánh mắt ông lão. Anh thấy bên trong khoang ghe được ngăn lại bằng một tấm màn vải kẻ ca rô mà người nhà quê ưa dùng. Từ trong ấy có một cô gái vén màn chui ra. Cô gái một tay cầm gói trà còn tay kia vén tóc lại cho gọn gàng và khẽ gật đầu chào khách. Hưng bàng hoàng. Dù ánh trăng không tỏ lắm nhưng anh cũng kịp nhận ra là cô gái quá đẹp. Bộ đồ bà ba màu xanh lá tuy rộng nhưng vẫn nhìn rõ một vóc dáng thanh thoát, rất ít gặp ở những cô gái con nhà thương hồ. Không hiểu sao Hưng lại chăm chú nhìn cô như vậy, thậm chí anh còn nhận thấy hình như gương mặt cô có một nét u buồn sâu kín. Khi cô lui vào trong khoang ghe, khuất sau tấm màn, Hưng nghe như có tiếng đối đáp nho nhỏ giữa cô gái cùng một người khác nữa.
Chiếc ấm trên hỏa lò bắt đầu sôi và ông lão nhắc ra, rót nước vào một chiếc ấm đất màu gan gà. Vẫn nghe thấy tiếng người thì thầm, Hưng đánh bạo hỏi: “Xóm ghe mình hôm nay thức khuya để dời đi đâu hả bác?
Mắt ông lão dường như tối lại: “Cả xóm đã bàn nhau nhưng chưa biết là sẽ đi đâu. Chúng tôi đã định cư đây bao đời rồi, giờ thật là khổ.”
Tiếng thì thầm trong khoang ghe bỗng chuyển thành tiếng nức nở, ông lão bảo Hưng: “Thôi, uống nước đi cháu. Chúng tôi cũng sắp sửa nhổ sào”.
Rồi ông quay vô, trầm giọng: “Chuẩn bị đi bà ơi. Ông hắng giọng, nói thêm. “Còn con Lục Bình, cha đã nói là phận mình bọt bèo thì mình đành phải chịu. Sao còn thương cảm hoài vậy!”
Không dằn lòng được nữa, Hưng hỏi: “Cô nhà có chuyện chi mà không vui vậy bác?” “À, Lục Bình là con gái út nhà tôi. Trước đây chúng tôi có hứa hôn với họ Hà. Thế nhưng gần đây không hiểu sao đất đai nhà cửa của dòng họ ấy bỗng bị mất sạch. Cha con ly tán, họ hàng thất lạc. Thằng con rể tương lai cũng bị vạ lây. Giờ đây, chúng tôi cũng phải ra đi. Chuyện nhơn duyên lỡ dở như vậy nên mấy ngày nay con Lục Bình nó khóc lóc hoài. Cả hai vợ chồng tôi khuyên can mấy cũng chưa nguôi”
Hưng rùng mình, uống vội ngụm nước rồi từ giã ông cụ. Khi anh bước lên bờ, dưới ánh trăng huyền hoặc, Hưng vẫn nhìn thấy cái thân hình nhỏ bé buồn bã của ông cụ in đậm trên nền của hàng cây và bên tai Hưng vẫn vang lên tiếng nức nở của người con gái...
Sáng hôm sau, Hưng giật mình tỉnh lại khi có người lay gọi. Anh bàng hoàng thấy mình nằm ngủ ngay trên thành cây cầu sắp sửa bị phá đi, cách xa chiếc võng của mình chừng mười mét. Anh chàng công nhân trẻ cười:
- Hồi đêm xỉn dữ hả anh Hưng? Về không tới võng mà...
Hưng ngồi dậy, anh tựa vào lan can cầu nhìn xuống dòng sông đang cạn. Dưới ấy, từng đám lục bình đang theo con nước đẩy đưa giạt dần về phía sông cái. Có một nhóm lục bình nhỏ còn vướng vào chân cầu vì nước đã cạn lắm. Hưng đi vòng xuống bến, gỡ cánh bèo và nhẹ nhàng đẩy nó ra xa, nhập vào đám lục bình lớn trước con mắt ngạc nhiên của người công nhân trẻ.
* * *
Chúng tôi ngồi bên nhau trong công viên bên bờ sông, trước mặt tôi những cánh bèo vẫn giạt từng đám trong cơn nước kiệt. Giọng Hưng bùi ngùi: “Sau đó mình xin chuyển công tác. Mình cảm thấy như có gì đó sai lầm, và như thể có lỗi với tuổi thơ của mình. Và còn một lý do nữa, đó là nỗi ám ảnh không nguôi về cái đêm nửa hư nửa thực ấy. Mình vẫn nhớ rất rõ cô gái ấy tên là Lục Bình, vẫn nhớ màu áo xanh cô ấy lay động dưới ánh trăng khi đem gói trà ra, và nhớ rất rõ ánh mắt buồn của ông cụ và cách nói chơn chất như người vùng quê cách đây cả vài chục năm. Nhớ tiếng nức nở của cô con gái cùng câu chuyện lạ lùng về dòng họ Hà bị xiêu tán, nó cũng giống như một lời cảnh tỉnh”.

Đêm đó khi chúng tôi trở về, Hưng chở tôi chạy ngang qua khu đô thị mới. Dòng sông xưa giờ đã mất tích. Chỗ chiếc cầu đá mà cách đây hai mươi năm chúng tôi còn thi nhau leo lên rồi nhảy ùm xuống dòng nước mát gần như không còn có thể nhận ra. Thay vào đó là những tiếng nhạc xập xình phát ra từ các quán cà phê mới đang thi nhau mở hết công suất.

(Trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục- đã xuất bản 2008 và tái bản 2014)

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Chuột!



Truyện ngắn

A sống trong một xóm nghèo thành phố. Ở đó có những căn nhà lụp xụp, những bãi rác tiếp cận với một dòng kinh nước đen, hai bên dòng kinh có nhiều cống rảnh và từ cái nơi hôi thối này, sinh sôi nảy nở hàng hàng lớp lớp loài gặm nhấm mà A rất ghét: loài chuột.

A tìm mọi cách trừ khử chúng. Anh nuôi mèo, đặt bẫy, đánh bả… nhưng không cách gì giết hết bọn chúng. Chúng quá đông và chúng đâm nhờn với cả con người. Đôi khi đang ngồi đọc sách, có những con chuột cống to như con chó con chạy ra, tung tăng cách A chừng ba mét, ngước nhìn anh như giễu cợt. Loại này đến mèo còn sợ. Khi A vung tay ném vào nó cái gì đó, nó mới chuồn êm vào ngách tường. Hết cách này đến cách khác, chuột vẫn cứ sinh sôi, đến nổi đã có lúc A muốn dọn nhà đi khỏi cái khu ổ chuột này, bởi anh nghĩ việc chống lại bọn chúng là vô ích.

Một đêm, ngủ gục bên bàn làm việc, A mơ thấy mình dắt tay đứa con gái bé nhỏ đi đến một vùng quê cằn cỗi. Hai cha con đều khát khô cổ. Rồi anh nhìn thấy một căn nhà không đóng cổng. Anh dắt con đi vào đó, dự định xin gáo nước. Bất ngờ có một con chó vàng xồ ra, tấn công hai cha con bằng những cú đớp. A đẩy đứa con gái ra sau lưng, chống cự với con chó để bảo vệ con. Nó lao đến, gặm được vào bắp chân A. Bằng tất cả sức lực của mình, A bóp cổ con chó rồi quăng nó ra xa, bắp chân anh có ba vết răng chó, rướm máu, nhưng cách A chừng hai mươi mét, con chó chết nhăn răng. Một bầy chuột chạy ra, hè nhau ăn thịt con chó vàng. Cũng ngay khi A mơ giấc mơ lạ lùng đó, có một con chuột đã bò vào, và gặm chân A. Có lẽ vì quá mệt mỏi và ngủ mê, A chỉ choàng tỉnh khi cảm thấy đau, con chuột phóng mình bỏ chạy, ngón chân cái của anh bị gặm tơi cả da và thịt, nó rướm máu và đau rát…

Chiều hôm sau, cứ ngẫm ngợi về giấc mơ, A rời nhà đi lang thang dọc theo dòng kinh đến cái đoạn mà chính quyền đang cải tạo nó. Những căn nhà bị giải tỏa đã rời đi, để lại những khoảng đất trống nham nhở mọc đầy cỏ dại và rác. Do giải tỏa, ngôi chùa cổ có kiến trúc theo kiểu Khơ me cũng bị đập tường và lộ ra. A từng đến ngôi chùa này, người địa phương gọi là chùa Miên, nơi đó tất cả sư sải đều là người dân tộc Khơ me. Có nhiều vị sư già, người Khơ me gọi là À cha hay sư cả. Trước mắt A, một sư cả đang ngồi trên nền đất, và anh cực kỳ kinh ngạc, khi vây quanh vị sư già có rất nhiều chuột, bởi ông đang cho chúng ăn.

Vị sư đó A đã vài lần tiếp chuyện. Ông tu theo Phật giáo nguyên thủy, một vị chân tu thông hiểu Đạo Pháp. Ổng chỉ sống bằng khất thực và thu nhận cúng dường từ đồng bào mình. A đến trước ông, chắp tay chào.

Vị sư nhận ra A, ông khẽ mỉm miệng cười, và cũng chắp tay chào lại. Đàn chuột thấy người lạ, bỏ chạy tán loạn, nhưng rồi lại mon men trở lại, giành nhau chí chóe những mẩu bánh mì, tranh nhau thò đầu vào thau sữa và một chiếc nia đựng cơm…

A ngồi xổm xuống gần ông, quan sát đàn chuột, thứ mà anh từng khinh ghét. Trong sự che chở của nhà sư, tuy chúng vẫn tranh ăn cùng nhau nhưng nhìn chúng không gian giảo như khi chúng đột nhập vào nhà anh, dù vậy chúng vẫn bốc ra một mùi hôi tởm lợm.

A dịch ra một chút, nói: “Bạch thầy, lòng từ bi của thầy quả là vô lượng. Nhưng với con, con chỉ muốn cho cái đám dơ bẩn này biến khỏi thế gian”

Sư cả cười móm mém vì không còn chiếc răng nào: “Mọi hữu tình đều cần xót thương, những của bố thí này là của nhân gian, các sư trong chùa dùng một phần, phần còn lại chia đều cho chúng sinh”.

Nhìn thấy A cố ghìm cơn mửa vì mùi chuột, sư phủi tay đứng dậy dẫn A lùi vào bên trong vườn chùa, nơi có một chiếc ghế đá. Ông nói: “Nhìn ánh mắt thí chủ, có thể biết thí chủ căm ghét loài chuột như kẻ thù. Nhưng người tu hành như sư thì không có kẻ thù”.

A nói: “Con đã giết nhiều chuột, dĩ nhiên theo cách nhìn của thầy là đã phạm giới sát sinh, nhưng quả là không thể giết hết bọn chúng và cũng không thể sống cùng bọn nó”

Sư cả nói: “Nhân quả vốn dĩ khó phân”
A hỏi: “Như vậy thầy cho rằng việc làm của con là vô ích?”
Sư cụ mỉm cười: “Không có bất kỳ việc làm nào trên đời này là không tạo quả. Nhưng nó có ích hay vô ích là từ tâm mà suy luận”

Rồi ông nhìn vào đám chuột đang say sưa ăn uống. Chúng có vẻ đã no nê nên không còn cắn nhau nữa. Ông lại nói: “Dù thí chủ giết hay không giết chuột, nhưng những chúng sinh tội nghiệp này có thể đang ăn bữa ăn cuối cùng của chúng”
“Thầy nói vậy nghĩa là sao?”.
Sư cả ngước nhìn bầu trời, rồi nhìn A: “Chuột không thể chết hết với những cách thông thường như của thí chủ. Chúng thường chết nhiều, có khi gần hết khi một cơn lũ lớn về đây. Lũ làm ngập tất cả ống cống trong khu vực, và chúng chết ngạt. Có hôm, sư mang sữa, bánh mì, cơm nguội ra đây nhưng không có con chuột nào đến ăn”

A ngẫm nghĩ lời sư, anh thấy ông nói rất đúng. Anh buột miệng: “Vậy chừng nào thì lũ đến?”. Cảm thấy mình vừa thất lễ, anh sửa lại: “Bạch thầy, chừng nào cơn lũ sẽ đến?”

Sư cả nhìn anh hiền từ, ông xoay người, đưa tay chỉ ra ngoài xa: “Giọng thí chủ đầy sát khí, thí chủ cứ nhìn lên bầu trời hôm nay, nó có vẻ rất bình yên, nhưng hãy hướng tầm mắt thấp xuống, ở phía kia, mây đen đang tụ, một cơn bão lũ đang đến, đúng, có thể đây là bữa ăn cuối cùng của chúng”.

A nhìn theo tay chỉ của sư cả. Anh chỉ nhìn thấy một chân trời mây xám. Sư nói: “Thí chủ rảnh chân xin mời vào trong chùa uống trà, sắc mặt thí chủ không tốt, gió chiều e có độc”.

Nhưng A cám ơn ông, xin lỗi vì đã quấy rầy rồi trở ra. Những con chuột no nê đã rời đi hết về phía miệng cống. Anh lại đi dọc bờ kinh, đến cái rào chắn rồi quay ngược về. Phía sau lưng A chân trời vẫn u ám nhưng tĩnh lặng.

10. 2014

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

TRÒ CHƠI

 

Ở Sài Gòn, anh rất ngại đi đám cưới tại các nhà hàng. Với anh đó là nơi trưng bày thô thiển nhất về sự phù phiếm, thô tục, ồn ào và mất thời gian. Chính vì vậy, một khi có thể từ chối hay trốn tránh là anh làm ngay. Hoặc là anh “nhường” cho vợ, dù anh biết nàng đôi khi cũng rất miễn cưỡng.

Hôm nay là một buổi tối như vậy. Thế nhưng đứa con gái bé nhỏ của anh không thể đi theo mẹ vì còn quá bé. Nó vừa qua sinh nhật lần thứ ba. Và nó cũng không chịu ở nhà một khi mẹ ra đi. Vậy là anh đành chọn giải pháp đưa con đi chơi trong lúc nàng một thân một mình đi đến “cái chốn phù phiếm và thô tục” đó.

-          Con muốn đi đâu? Anh hỏi con bé khi đã đặt nó lên phía trước của yên xe máy.
-          Con thích đi thú nhún, với lại đi câu cá nữa!

Xe chạy ra khỏi hẻm hòa vào con đường lớn, hòa vào tiếng động  đinh tai nhức óc của muôn loại kèn xe, thế nhưng con bé lại rất phấn khích. Nó bi bô hát, có lẽ vui mừng vì được ba đưa đi chơi, một điều khá hiếm hoi. Cách nhà anh khoảng hơn cây số có một khu vui chơi và anh chạy xe đến đó. Đó là một công viên nhỏ, được chính quyền “trưng dụng” để cho người ta thuê làm dịch vụ phục vụ trẻ em bằng các trò chơi đơn giản, rẻ tiền. Khu vui chơi khá đông đúc, ồn ào. Một quầy bán vé hình lục giác nằm trên lối đi. Anh tấp xe vào bên hông, cạnh một chiếc ghế đá trống, khóa xe và vào mua cho con hai vé thú nhún và một vé “câu cá”.  Đặt con bé vào con thú có hình con công, cho “đồng tiền” vào máy, bấm nút, "con công" sẽ trồi lên, tụt xuống, lắc qua lắc lại.... Anh vừa canh chừng con vừa canh chừng xe và sau khi đi hết hai vòng “thú nhún” anh dắt con qua chỗ câu cá cũng gần đó. Trò chơi này khá đơn giản với một cái hồ bằng nhựa tròn, đường kính khoảng 1m5, trong chứa đầy nước và những con cá, tôm, cua… bằng nhựa. Mỗi đứa bé tham gia trò chơi sẽ được phát một cần câu cũng bằng nhựa, cuối dây câu có một thỏi nam châm và một cái rỗ. Khi quăng dây cây xuống nước, các thỏi nam châm này sẽ hút vào các thỏi nam châm gắn trên miệng cá và các bé sẽ nhấc nó lên, gỡ cá bỏ vào rỗ. Chỉ vậy thôi nhưng các cô cậu bé cỡ tuổi con anh, hoặc lớn hơn chút cũng rất hào hứng với cuộc chơi.

Thấy con đã an toàn ngồi chắc trên ghế câu, anh yên tâm bước lại gần ghế đá, lơ đãng ngắm nhìn xung quanh. Không xa chỗ anh là các trò chơi khác cũng khá nhộn nhịp. Một vòng đu quay, một vòng đua ngựa gỗ và xa hơn chút là trò xe lửa chạy trên đường ray sắt. Anh nhìn thấy khá đông những người “đồng cảnh ngộ” như mình. Trên một “toa tàu”, một người cha trẻ mặc áo màu sáng ngồi với một cậu con trai, phía sau là một thiếu phụ mặc áo khoác sẫm màu cùng với cô con gái. Bỗng anh nghe những tiếng sầm sập như tiếng chân chạy vội và nhìn ra xa hơn. Gần sát mép đường, ngoài khuôn viên của công viên nhỏ các người buôn bán bất hợp pháp trên lề đường đang gom hàng giấu vào đằng sau các bức tường thấp. Có lẽ họ vừa nhận tín hiệu sẽ có lực lượng công an trật tự sắp đến. Cả một lề đường dài bị lấn chiếm bán mũ bảo hiểm và các loại giấy kiếng dán xe, dán điện thoại di động… đã  nhanh chóng được dọn sạch…

Ngay lúc đó có một cô gái mặc áo công nhân màu xanh từ bên ngoài đi vào chăm chú nhìn anh. Hơi ngạc nhiên, anh ngước nhìn thì cô lãng đi. Cô gái còn khá trẻ, cỡ chừng 22, 23 tuổi, thân hình khá đầy đặn. Cô đến cách anh chừng 3m và ngồi xuống trên bậc thềm của bồn hoa. Một lát anh thấy cô lấy ra một chiếc điện thoại cũ và bắt đầu nhắn tin. Anh mỉm cười vì nghĩ chắc cô đang hẹn hò và đang nhắn cho bạn trai của mình. Cô ngồi quay lưng lại phía anh, mắt nhìn ra đường trông đợi…

Mấy phút sau điện thoại cô gái có tín hiệu tin nhắn mà âm thanh tút tút lớn đến nỗi anh nghe rất rõ. Cô gái đọc tin và nhoay nhoáy trả lới. Anh lại mỉm cười. Bỗng dưng anh nhớ đến một thời rất xa của mình, thời anh trên dưới 20 tuổi. Hồi đó làm gì có điện thoại di động khi mà điện thoại bàn cũng là của hiếm. Đôi khi muốn gặp nhau phải hẹn hò, chờ đợi khá là vất vả. Thế nhưng nó lãng mạn. Nhưng đã là tình yêu thì thời nào mà không lãng mạn? Cô công nhân trước mặt anh đang náo nức chờ một chàng trai đến đón, hẹn hò với chiếc điện thoại di động trên tay cũng lãng mạn có kém chi thế hệ anh thuở xưa?

Một người đàn ông trạc tuổi anh chạy một chiếc tay ga từ ngoài vào, mắt dáo dát tìm. Ông ta đi một mình, có lẽ ông ta đến đón vợ con đang chơi ở đây? Người đàn ông ấy dừng lại gần quầy vé và đưa tay vào túi quần móc ra chiếc điện thoại di động đời mới và bấm máy. Mấy giây sau anh nhìn thấy cô công nhân trẻ đang cầm máy của mình nhìn chăm chăm vào người đàn ông và tiến lại gần ông ta. Cô gái hỏi nhỏ, nhưng anh vẫn nghe:
-          Anh là anh Thịnh?
-          OK, em là Vy?

Cô gái khẽ khàng gật đầu. Người đàn ông đưa tay lấy chiếc mũ bảo hiểm cài sẵn trên móc xe, đưa cô gái. Ông ta hỏi, không cần thấp giọng:
-           Em đi chơi được bao lâu?

Anh nghe tiếng cô gái loáng thoáng: “Một giờ. Anh trả em nhiêu?”

N.Đ.B. (Trong tập KIỀU- NXB Sống Hoa Kỳ)


Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

CHUỐI NƯỚNG NẾP


Truyện ngắn

Nội ô thị xã vừa lên thành phố chỉ có mấy con đường. Buổi tối thật thanh bình. Vinh chạy xe gắn máy chầm chậm, từ phía sau, Hương ôm nhẹ vòng hông anh, cằm tựa vai. Chạy chừng mười phút thì hết phố, đến nhà lồng chợ, nếu qua cầu sẽ như một vùng quê. Vinh không chạy xe lên cầu, vì buổi chiều họ đã qua đó, đi dọc con kinh đào, có rất nhiều dừa xanh, có những căn nhà lá nhỏ, có những hàng quán xiêu vẹo, và sau lưng những căn nhà, vườn cây là cánh đồng lúa đang bắt đầu chín. Lúc đó Hương nói: “Anh, mình về đây, mua một miếng đất, trồng chuối, nuôi gà, em sẽ sinh ra ba đứa con…”. Vinh cười: “Mua miếng đất thì cũng được, nhưng sao trồng chuối mà không trồng thứ khác, với lại sao sinh ba đứa con?”. Hương ngắt tay Vinh: “Trồng chuối vì em thích ăn chuối nướng, còn sinh ba đứa con vì em ghét cái chế độ chỉ cho sinh hai đứa”. “Còn sao lại nuôi gà mà không nuôi heo, nuôi vịt?” “Tại em biết anh thích ăn thịt gà”

Hương là vậy. Thích phản kháng nhưng thường rất dịu dàng. Xe vòng qua phía công viên. Cô bỗng đập hông anh: “Qua bên kia đường đi anh!” “Chi vậy?” “Em thấy có một bà bán chuối nướng”.

Vinh bẻ tay lái. Đúng là có một chiếc xe đẩy bán chuối nướng, mắt Hương tinh thật. Một chiếc xe chuối nướng rất sạch sẽ, thùng kim loại sáng choang, lại có hộp để đựng mang đi. Mùi chuối vừa chín nướng với nếp trên than hồng, mùi nước cốt dừa thơm ngọt ngào. Hương có vẻ hài lòng, cô xuống xe lựa mua hai hộp, tíu tít hỏi chuyện bà bán chuối như đã quen từ lâu, rồi thấy anh đứng lơ ngơ, cô nói: “Anh đi mua hai bịch cà phê đi, buổi tối khách sạn họ không có bán”.

***

Thành phố tràn ngập xe giờ tan việc. Mưa đã ngớt nhưng vẫn còn những đoạn trũng nước ngập. Nước mưa hắt trên mặt người đàn ông rồi chạy theo những đường khắc khổ. May là đường một chiều nên dù đông xe nhưng chưa gây kẹt. Anh quẹo vào một con đường nhỏ có cái chợ chồm hổm. Cuối chợ có một xe bán chuối nhỏ, nhem nhuốc. Một cô bé chừng mười ba tuổi, gầy gò reo lên khi thấy người đàn ông tấp xe vô:
“Ôi chú, con chờ chú nảy giờ”
“Ừ, chú xin lỗi, mưa lớn quá”
“Dạ hông sao, đến tối con cũng chờ mà”
“Cám ơn cháu nhiều”
Người đàn ông nhận bịch chuối nướng, anh không móc nó ở hông xe mà mở túi xách, cất bịch chuối vào giữa. Xong anh gật đầu chào cô bé, chạy xe đi…

Cô bé lúi húi lau chiếc xe đẩy, dọn dẹp chuẩn bị về. Người phụ nữ bán bún ngồi kế bên tò mò hỏi: “Bé Ba, thì ra mày chờ chú kia đến lấy mấy trái chuối nướng, sao phải chờ ổng vậy?”
“Chú đó tên Vinh, chiều nào chú cũng mua cho vợ mình”
“Chời, đàn ông mà có hiếu với vợ quá hen…”
“Không phải đâu cô…”

***

Người đàn ông chạy xe qua nhiều ngõ và dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Anh tự lấy chìa khóa, mở khóa từ bên trong. Khi người đàn ông dắt xe vô sân nhà, mặt anh đã mất hết vẻ khắc khổ, anh kêu lên: “Hương ơi, anh về rồi đây!”.

Có tiếng lịch kịch từ bên trong, một thiếu phụ ngồi trên xe lăn đẩy xe ra đón chồng. Cô hỏi: “Anh có mua chuối nướng cho em không?”
“Ồ, mưa lớn quá, anh quên mất!”
“Thiệt hả?”
“Thiệt!”
“Anh xạo, anh xạo”
Vinh cười, xoay lưng chiếc xe lăn, đưa cái túi cho vợ, nói: “Đây nè, ở nhà buồn hả em”.
“Không, không buồn, em coi tivi mà”
Hương quay lưng về phía Vinh, ôm cái túi trong lòng, Vinh không nhìn thấy mắt vợ ứa lệ.
Hương hỏi: “Chuối nướng của cô bé đó hả anh”
“Ừ, của cô bé đó”
“Cô bé quê Tân An?”
“Ừ, cô bé quê Tân An”
Vinh nhẹ nhàng đẩy xe vào nhà trong. Quay lưng về phía chồng, Hương không nhìn thấy Vinh ngập ngừng. Vinh đã nói dối vợ. Cô bé không phải quê Tân An, quê cô ngay chân cầu Rạch Miễu, cây cầu mà trên đường du lịch từ Bến Tre về, do cầu hẹp, một chiếc xe tải mất lái đã lao vào đôi tình nhân ba năm trước!

14.10.2014

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

HOA LẠ



Phan ngoài ba mươi tuổi vẫn còn độc thân và sống rày đây mai đó nhưng rất ít khi về quê nhà. Chàng có nhiều tài vặt, có thể làm thơ, viết một vài truyện ngắn gởi đăng báo kiếm chút tiền. Là một người trung thực, trọng chữ tín nhưng chàng cũng rất đa tình. Năm Phan ba mươi tuổi tự dưng suốt từ đầu năm cứ gặp hết chuyện xui này đến chuyện xui khác. Một ngày gần cuối năm, vừa khỏi một cơn bệnh kéo dài chàng bỗng thấy nhớ cha mẹ liền lên đường về thăm nhà ở một vùng trung du nơi cha chàng đến định cư mười năm về trước. Ông tuy đã gần bảy mươi nhưng còn khỏe mạnh và ham thú làm vườn, nên khi về vùng đất mới, khi người còn thưa, đất rộng, ông đã khai phá và sở hữu cả một sườn đồi lớn trồng toàn đào lộn hột – còn gọi là cây điều. Sống lang chạ mãi ở tỉnh thành, Phan bỗng mê mẩn với khung cảnh thiên nhiên thuần khiết ở vùng bán sơn dã và mê nhất là không khí tĩnh lang, thơ mộng của vườn điều nhà mình, nên chàng liền xin phép cha được coi sóc vườn thay ông trong một khoảng thời gian ngắn. Được gia đình đồng ý, Phan thu xếp vào ở hẳn trong rẫy, nơi chỉ cách phố huyện vài cây số đường đồi, với ý nghĩ sẽ ở lại đây cho qua năm “vận hạn” của mình.
Không phải mùa thu hoạch nên nhiệm vụ của Phan chỉ là coi chừng đừng cho bọn trẻ chăn bò đốn cây hoặc đốt lửa làm cháy rẫy. Khoảng thời gian sáng sớm và chiều tối chàng thường đi thăm thú những vùng lân cận. Chàng đã từng theo đường mòn tìm đến một “buôn” của người dân tộc xa hàng mười cây số, từng vào thăm một vài làng nhỏ của công nhân cao su trong những cánh rừng cao su bạt ngàn, nhưng chàng lại thích thú nhất khi một hôm phát hiện ra một cái hồ khá rộng nằm giữa ba quả đồi lớn. Mặt hồ trong veo, đứng trên đỉnh đồi Phan đã cảm thấy hơi nước mát lạnh tỏa ra khắp xung quanh. Giữa hồ là một nhà thủy tạ nhỏ làm khung cảnh càng thêm thơ mộng. Lúc ấy đã chiều nhưng chàng vẫn tuột theo con dốc dẫn xuống bờ hồ. Chàng ngạc nhiên khi thấy không khí vắng vẻ như tờ. Khi theo chiếc cầu ván bắc ra nhà thủy tạ, Phan cho rằng nơi này hẳn đã bị bỏ hoang ít ra cả nửa năm rồi. Cỏ và dây leo các loại mọc đầy trên các kẽ ván. Những chú rắn mối bò sột soạt trong lá khô giương mắt nhìn khách lạ. Quanh nhà thủy tạ, dọc theo lan can treo đầy những chậu lan. Vùng trung du, chiều sập xuống rất nhanh nên Phan vội quay về mà không kịp ngắm những giò lan đang đâm hoa và thoang thoảng hương. Từ nơi đó về đến rẫy của chàng cũng khá xa...
Sáng hôm sau, từ sớm Phan đã quay trở lại cái hồ đẹp ấy. Rừng cao su vào mùa xuân là một trong những cảnh tuyệt vời. Lá rụng dày tạo thành một tấm thảm êm ái dưới chân ta, còn lá mới trên cành thì mơn mởn như thể trời vừa đổ xuống một cơn mưa mỡ.
Nắng lên, Phan cởi quần áo nhảy ùm xuống hồ, vì đã lâu chàng không được bơi lội. Nước hồ lạnh nhưng trong suốt đến tinh khiết. Lòng chàng lại thầm ngạc nhiên tự hỏi, tại sao một cái hồ đẹp như thế này và người ta đã tốn công dựng lên một nhà thủy tạ cũng đẹp không kém rồi lại bỏ hoang? Và đây là một công trình công cộng hay của riêng một cá nhân nào?
Tắm xong, Phan leo lên và bắt đầu đi vòng quanh theo lan can hình lục giác để ngắm những chậu lan vừa trổ hoa. Lan ở đây phần lớn là Ngọc điểm và Thủy tiên, hai giống lan đẹp và mọc nhiều ở rừng miền Đông. Đi gần hết chu vi nhà thủy tạ chợt Phan dừng lại, nhìn như thôi miên vào một cành hoa lạ. Những bông hoa màu tím sậm, gần giống như hoa uất kim hương, nhưng nhỏ hơn, nở từng chùm lộng lẫy. Từ những chùm hoa ấy, một mùi hương ngào ngạt lan tỏa khắp xung quanh. Phan như mê mải bởi vẻ đẹp khó tin của chùm hoa lạ và ngây ngất vì hương thơm quá quyến rũ. “Ôi, ta muốn đem giò hoa này về cùng ta quá! Đây có lẽ là một loại lan cực quý hiếm – chàng nghĩ thầm. Nhưng mà nơi đây thuộc quyền sỡ hữu của ai? Lẽ nào ta lại đi trộm cắp hoa của một người nào đó?”.
Nghĩ thì như vậy, nhưng không dằn lòng được, cuối cùng Phan gỡ cành lan lạ và quá đẹp ấy. Lạ lùng là nó không được trồng trong chậu mà như thể tự mọc lên từ một chiếc cọc gỗ cắm sâu dưới đáy hồ. “Tết này mình sẽ có một giò lan độc nhất vô nhị đây!”. Phan cố tình nghĩ vậy để xua đi cảm giác có lỗi.
Đêm ấy trời hơi lạnh. Còn chưa đầy mười ngày nữa là Tết đến. Phan đốt một đống lửa nhỏ như thường lệ trong bếp và đem treo giò lan ngoài gốc điều trước trại để nó hứng sương. Chàng ngồi mơ màng, cảnh đơn độc làm chàng hồi tưởng lại những người con gái đã qua đời mình, những cuộc tình đến rồi đi, những hẹn thề, những bội bạc... Cơn gió Đông Bắc xào xạc bên ngoài đêm ấy sực nức một mùi hương quyến rũ. Phan leo lên một chiếc vạt tre dùng làm giường, lâng lâng trong hương thơm ấy và chập chờn... Bỗng chàng trông thấy một cô gái đứng kế bên chiếc chõng tre của mình. Phan lồm cồm ngồi bật dậy. Cô gái mặc toàn màu tím, tóc xõa dài, mắt lung liêng ánh lửa.
- Cô là ai? – Phan hỏi - Tại sao cô đến đây được vào lúc này? Cô gái hơi lùi lại như lúng túng. Nét mặt cô ta thật đẹp nhưng u buồn.
- Cô là ai? – Thấy cô gái không trả lời, Phan hỏi gằn.
- Em tên là Lan. Nhà em cũng gần...
- Tại sao cô lại đến đây vào lúc này?
- Tự em không đến đây được. Chính anh đã đem em đến! Giọng nói nàng êm ái như tay ta đang chạm vào một miếng nhung.
Một mùi hương quyến rũ, ngọt ngào từ phía người đẹp sực nức lan ra. Phan như mê mẩn và mất hết cả tự chủ. Chàng sỗ sàng nắm tay cô gái kéo về phía mình. Cô ta yếu ớt chống lại rồi ngã vào lòng Phan, nhưng đưa tay ngăn chàng lại:
- Em sẵn sàng trao thân cho anh, nhưng anh phải hứa một điều.
- Em cứ nói! Anh sẽ làm tất cả cho em. Sẽ không từ nan bất cứ chuyện gì! – Phan hổn hển đáp vội.
- Ngày mai anh phải quay về chợ và phải mang em theo!
- Ngày mai?
- Phải! Ngay ngày mai! Người ta sẽ bắt đầu bán hoa rừng ngoài thị trấn. Anh hãy đưa em đến đó và bán em ngay cho người hỏi mua đầu tiên!
Phan hoàn toàn không hiểu gì về điều kiện mà cô gái tên Lan đưa ra, nhưng bị quyến rũ đến mê muội, lúc ấy chàng sẵn sàng hứa bán cả trái đất nếu người đẹp yêu cầu để sớm được bước vào chốn đào nguyên đầy hương sắc lạ lùng, huyễn hoặc và nồng cháy. Chưa bao giờ Phan cảm thấy say sưa, đắm đuối như vậy. Chưa có cô gái nào từng qua đời chàng lại mềm mại, thơm ngát như cô gái tình cờ lạ lùng trong đêm nay. Phan gần như trút hết sinh lực vào cuộc truy hoan rồi rã rời thiếp đi...
Những tia nắng ban mai chiếu vào mắt làm chàng giật mình tỉnh dậy. Cảm giác đầu tiên là cái đầu nặng nề và đau buốt, nhưng rồi sực nhớ lại chuyện đêm qua, Phan bàng hoàng nhìn quanh. Vắng lặng. Tiếng một con chim sâu lích chích ngoài vườn điều. Đêm qua mình mơ chăng? Không, hương ấy vẫn còn rất nồng trên chiếu. Phan đưa cánh tay lên mũi ngửi. Chàng bần thần nhớ cái cảm giác lúc bàn tay mình chạm vào da thịt mềm mại và nóng bỏng của cô gái tên Lan. Những hình ảnh đêm qua giờ diễn qua ý nghĩ chàng từ đến cuối. Chợt Phan bật dậy bước ra ngoài. Lan? Hay là...? Giò lan lạ hôm qua vẫn còn treo trên cành điều trước trại. Một mùi hương thoảng qua quen thuộc. Phan đứng như chôn chân bên cạnh những chùm hoa. Nàng là ai? Là những bông hoa tím đẹp não nùng này sao? “Em không tự đến đây được...” Lời nói ấy như còn văng vẳng bên tai Phan, rồi nàng còn bắt mình phải hứa bao điều? Phan ôm lấy đầu. Cơn nhức đầu có dịu đi nhưng lòng chàng thì loạn lên vì bao nhiêu thắc mắc lạ lùng. “Người ta sẽ bắt đầu bán hoa rừng ngoài thị trấn. Anh hãy đưa em đến đó và bán...”. Bán? Cho người hỏi mua đầu tiên?
Phan đưa tay sờ vào những cánh hoa. Nó mềm mại và âm ấm, khác hẳn những cánh hoa bình thường. Chàng lặng lẽ thu xếp đồ đạc. Dù gì thì mình cũng đã hứa. Dù chỉ là hứa trong một giấc mơ!?
Càng về gần chợ, những người đi đường càng trầm trồ nhìn giò lan. Ai cũng khen quá đẹp và hỏi Phan đã tìm được ở đâu. Phan chỉ mỉm cười, không đáp. Vừa bước vào khu vực nhóm chợ, chàng kinh ngạc hơn khi thấy đúng là ở góc chợ có một số người tụ tập để bán hoa rừng. Phan đến gần, họ bán phần lớn là mai vàng và các loại lan lấy từ những cánh rừng quanh khu vực. Bỗng chàng chú ý đến một người đàn ông mập mạp đang bước ra từ cửa chiếc xe hơi sang trọng. Ông ta nhìn chàng chăm chăm rồi nhìn cành lan trên tay chàng.
- Anh bán giò lan này bao nhiêu? Ông ta hỏi khi bước lại gần, mắt nhìn xoáy vào những cánh hoa tím như đang run rẩy.
- Tôi... tôi..
- Ồ, giò lan này thật đẹp, mà lạ. Chắc là phải lấy từ một khu rừng nào đó xa xôi. Ông cứ trả cao giá vào! – Anh thanh niên bán mai vàng, mặc đồ công nhân cao su, đứng cạnh Phan bảo.
- Anh bán bao nhiêu cứ nói!
- Tôi không... Phan tính nói “Tôi không bán!”, nhưng nhớ lời dặn dò của cô gái đêm qua chàng trả lời xuôi: “ Tùy ông! - Tôi trả anh năm trăm ngàn. Được chứ? - Được!”
Người đàn ông móc một xấp giấy bạc, đếm sơ rồi nhét vào tay Phan và gần như giằng lấy giò lan, xong bước vội về phía xe hơi của mình. Mùi hương lan ra rồi tan dần theo cơn gió xuân.
Phan bỗng cảm thấy như kiệt sức. Chàng nhét tiền vào túi và cố gắng lắm mới về được đến nhà. Vừa vào đến sân chàng đã quỵ xuống, tai còn nghe tiếng la thất thanh của mẹ!
Tiếng đì đùng làm Phan hồi tỉnh. Chàng nhận biết ngay là tiếng pháo. Mẹ chàng là người đầu tiên thấy Phan mở mắt ra, bà reo lên mừng rỡ: “Phan! Con tỉnh rồi!” Cha chàng và người chị chạy đến đứng quanh giường. Phan cảm thấy không mấy mệt mỏi. Chàng hỏi:
- Con nằm đây được bao lâu rồi?
- Gần tuần lễ rồi! Con như một người ngủ say! Mẹ sợ lắm, nhưng bác sĩ cũng không hiểu là con bị bịnh gì!
Phan cố gắng nhớ lại tất cả. Đúng là tất cả đã xảy ra quá đỗi lạ lùng!
- Ai đốt pháo nhiều quá vậy mẹ?
- Pháo rước ông bà đó! – Cha chàng trả lời – Con cảm thấy ra sao?
- Con khỏe rồi! Cho con xin ly nước!
Mẹ chàng mang đến một ly sữa lớn và Phan uống ngon lành. Giờ thì chàng thấy tỉnh táo thực sự, chỉ có người hơi yếu.
Cha chàng nhìn con trai một lát rồi hỏi:
- Cha thấy con đã tỉnh thật. Giờ cha muốn hỏi con một chuyện!
- Điều gì vậy cha?
- Hôm con về đến nhà thì bị ngất đi, nhưng trong túi lại có một món tiền khá lớn. Con... con đã làm gì để có một số tiền như vậy?
Nghe giọng nghiêm khắc của cha mình, Phan thật cảm động. Ông là một người sống trong sạch và trung thực suốt đời. Chàng trả lời ngay:
- Cha đừng lo. Đó là tiền con bán hoa mà!
Rồi chàng lập tức kể cho cả nhà nghe chuyện về giò lan lạ tình cờ kia. Tất nhiên Phan không kể đến chi tiết chuyện gặp gỡ với cô gái tên Lan đêm nào.
- May cho con tôi! – Bà mẹ thở phào – Cành lan đẹp ấy là hiện thân của một cô gái bất hạnh nhập vào đó để trả thù!
- Mẹ nói gì hả mẹ? – Phan ngơ ngác hỏi.
- Cái ông mua giò lan của em đã chết rồi! – Chị chàng trả lời – Ông ta chết đột ngột trong phòng ngủ của mình cùng với giò lan lạ mới mua. Nhà chức trách bảo rằng các bác sĩ đã cho biết ông ta bị ngộ độc vì hoa Linh Lan! Nhưng cũng có những lời đồn đại khác...
- Em không hiểu gì cả! Chị kể cho em nghe đi!
- Ông ấy là chủ của một công ty lớn. Người ta đồn rằng ông chủ ấy đã giết cô thư ký trẻ đẹp của mình vì cô ta có thai với ông. Giết bằng cách xô xuống cái hồ mà em đã đến tắm và mang giò lan độc ấy về bán. Nơi đó, trước kia là nhà nghỉ của gia đình ấy. Sau cái chết, mà người ta giải thích là chết đuối của cô thư ký kia, không ai còn dám đến nữa vì người ta đồn nơi ấy có ma! Em mới về nên không biết! Mà thôi, em nghỉ đi! Để chị nấu cho em một nồi cháo gà!

Phan nằm im. Nhắm mắt lại. Linh Lan? Phải rồi. Chàng đã từng đọc sách nói về giống hoa cực đẹp mà cũng cực độc này. Nhưng còn cô gái áo tím có đôi mắt u buồn đêm ấy? Rồi hình ảnh nàng bỗng hiện ra. Phan mở bừng mắt. Không! Đó chỉ là ảo ảnh. Hình như trời sắp tối...

(Trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục)

Thứ Hai, 25 tháng 8, 2014

MỘT TRĂM CỦA MỖI NGƯỜI




Ăn cắp, dù bất kỳ hình thức nào, cũng là một hành vi vô luân

Giữa một đống xô bồ hỗn loạn của một xã hội bước vào thời kỳ suy đồi cuối cùng, nhà văn A là một người thất bại. Anh có đủ sĩ diện để không nịnh nọt các tay viết báo hay biên tập viên giữ các mục sáng tác, văn hóa nên tác phẩm của anh gần như bị làm ngơ khi nó chuyển đến các tòa soạn. Nhưng anh lại không đủ đầu óc tỉnh táo để đi buôn, không đủ bằng cấp để xin làm ở các cơ quan, công ty, xí nghiệp và không đủ sức khỏe để làm phụ hồ, chạy xe ôm… nên cuối cùng nằm nhà, ăn bám bà chị ruột bằng việc chấp nhận sống trên tầng ba nóng bức của căn nhà mà hai chị em thừa kế từ cha mẹ đã mất. Ngoài ba mươi, A cũng đã có vài mối tình nhưng chẳng đi đến đâu, vì người anh thích thì không chịu lấy anh mà người chịu thì anh không muốn lấy!

Những năm này, kinh tế đảo điên, công việc kinh doanh của gia đình người chị cũng xuống dốc, hai vợ chồng họ thường to tiếng nên không khí của căn nhà chung rất ngột ngạt. A trốn suốt trong căn phòng của mình, thậm chí có bữa không muốn xuống ăn cơm, tạm lót lòng với mì gói nước sôi. Nhà bà chị có hai đứa con, đứa con gái lớn mười ba tuổi rất thương cậu, đi học về thường nhín tiền mua cà phê, thuốc lá và quét dọn căn phòng bừa bộn của một văn nhân thất chí!

Ở đời, khi cô đơn, quẫn bách con người ưa nghĩ ngợi. Đàn ông ba mươi tuổi dù có tâm hồn văn chương nhưng cái choán hết tâm trí A đôi lúc là sắc dục và tiền. Vậy nhưng như đã nói đây là kẻ chẳng hề biết kiếm tiền mà chỉ mơ mộng hão. Những ý nghĩ luôn có con đường đi xa thẳm trong hoang tưởng mà cực lạc cũng chỉ là cái chớp mắt cá nhân. Nằm trên chiếc nệm sờn rách, nhiều khi A mơ đến những tấm thân ngà ngọc, những lâu đài vương giả, những tiệc tùng xa hoa trong một xã hội mà A biết, đồng tiền chi phối tất cả. Nhưng làm sao có tiền mà không động đến tay chân trí não?

Một hôm đọc báo thấy dân số nước mình tăng vùn vụt, đâu chừng sẽ là một trăm triệu người trong nay mai, đầu A chợt lóe lên ý nghĩ: “Trời ơi, phải chi mình có thể lấy chỉ một trăm đồng của mỗi người trên đất nước này, thì mình sẽ có chừng… mười tỷ. Lúc đó thì sung sướng dường bao”. Một trăm đồng của mỗi người? Đúng rồi, một trăm đồng gần như vô nghĩa, không ai có thể biết được mình mất một trăm đồng, mà nếu mất một trăm đồng thì cũng không ảnh hưởng gì đến túi tiền, chi tiêu, đời sống. Ôi, nhưng đó chỉ là chuyện của phép màu!

Dù biết chỉ là chuyện hoang đường, nhưng do vô công rỗi nghề nên A vẫn bị cái ý nghĩa kia cuốn hút. Cả ngày hôm đó anh tưởng tượng khi trong túi mình có mười tỷ thì mình sẽ làm gì đây? Đầu tiên là đãi bọn bạn ưa khinh bỉ cái nghèo của mình bằng một chầu long trời lỡ đất, có rượu bia như suối, có sơn hào hải vị và cả chân dài cho tụi nó sáng mắt ra. Sau đó sẽ làm gì nữa? À, sẽ mua một căn nhà nhỏ, riêng biệt, mua một máy tính xách tay đời mới để sáng tác và ngay lập tức in ba cuốn tiểu thuyết cho cái đám nhà văn từng coi thường mình biết mặt. Làm gì nữa? Ôi, lúc đó không biết liệu người trong mộng của mình còn nhớ lời tỏ tình ngày trước và nàng sẽ nghĩ lại hay không?

Thôi, dẹp mộng mơ, vét chút tiền còn lại đi uống cà phê cái đã!

A lang thang ra quán cà phê đầu hẻm. Những người bán vé số không buồn mời mọc vì đã quen mặt. Bỗng nhiên một ông lão râu bạc, đầu quấn khăn, nhìn rất cổ quái đi qua. Ông lão nhìn A và kéo ghế ngôi đối diện với anh. Vừa ngồi xuống, lão đã nói: “Cậu đang có một suy tư bí mật. Cậu có muốn tôi giúp không?”. A giật mình. Lão này là ai, mà sao lại nói năng như nhà tiên tri. Hay đây là một tay thầy bói dạo, muốn kiếm tiền?

“Tôi suy tư bí mật điều gì, và ông giúp bằng cách nào?”. Ông lão cười khà khà, nhìn vào mắt A: “Lão biết hết tất cả. Cậu đang có một ước vọng lớn mà trên đời này chỉ có lão là giúp được”. A hơi ngạc nhiên, dò hỏi: “Ông biết ước vọng của tôi? Vậy nó như thế nào?”. Ông lão ghé tai A, thì thầm: “Ta biết ngươi đang muốn có một số tiền lớn để thay đổi bản thân, chỉ cần “một trăm của mỗi người”, đúng không?”. Lần này thì A kinh hoàng thực sự, anh quơ tay đụng vào người ông lão để biết đó chắc chắn là một con người thực. Lão già cổ quái cười khà khà, bàn tay xương xẩu nắm tay A đau điếng: “Đúng phải không. Nhưng cái quan trọng là lão có thể giúp cậu hoàn thành sở nguyện”. A lúng túng: “Nhưng ông… ông là ai?” “Ta là ai ư? Cứ cho ta là ông Bụt hay một nhà tiên tri, một phù thủy, một quỷ sứ… tùy ngươi muốn. Nhưng ta chắc chắc, ta sẽ giúp được ngươi!” “Bằng cách nào?” “Bằng chính cái cách mà cậu đã tưởng tượng ra, ăn cắp chỉ “một trăm đồng của mỗi người”. “Ý tôi hỏi là ông sẽ làm điều đó bằng cách nào?” “À, điều này là hoàn tòan bí mật với nhà phép thuật. Cậu chỉ cần biết là ta làm được”. “Làm thế nào để tôi tin ông?” “Chỉ cần cho ta số tài khoản của cậu, sau đêm nay, đầu tiên tại cái thành phố mười triệu dân này, mỗi người sẽ mất một trăm đồng, và như vậy cậu sẽ có một tỷ. Sau đó đến những địa phương khác” “Tôi vẫn không tin, ông có gì chứng minh không?” “Hãy lấy tiền ra từ cái túi rỗng của cậu, xem nó có bao nhiêu?”. A nhìn vào túi áo, nó đã cộm lên, anh móc ra, toàn là mệnh giá lớn, mới cứng. Cứ nghĩ là mơ, A ngắt dái tai mình, nhưng đó là thật. Ông lão nói: “Tin rồi chứ hả? Bây giờ thì những đồng tiền trên tay cậu sẽ biến mất, vì nó không phải đến từ túi tiền của ai”.

Ngay lập tức những đồng tiền trên tay A biến mất như chưa từng có. Anh ngớ người, hoàn toàn choáng váng với thực tế đang diễn ra. Lão già lại nói: “Ta sắp đi, nếu muốn giàu có như ước mộng vừa qua, cậu hãy viết cho ta số tài khoản của mình”. Như bị thôi miên, A lấy bút trên túi áo, viết số tài khoản anh lập từ thời còn cộng tác tin xe cán chó với vài tờ báo mà đã lâu không dùng, đưa cho ông lão. Lão chống tay vào gậy, đứng lên. A hỏi thêm: “Nhưng nếu đó là sự thật thì ông có điều kiện gì cho tôi không? Và liệu như vậy thì có… sai trái gì không”. Lão già bước đi, quay lại nói: “Ta không có điều kiện gì, số tiền đó có từ ý của ngươi. Còn có sai trái gì không thì ta không trả lời”. Thoắt một cái, lão đã đi xa,  A ngồi lại một mình, như kẻ đang mộng du.

Buổi chiều đó A cứ bị hình bóng lão già ám ảnh, anh nằm trên giường trong căn phòng nhỏ nóng bức, không muốn xuống ăn cơm với gia đình. Đứa cháu gái mười ba tuổi chạy lên lầu, lo lắng sờ trán cậu, hỏi: “Cậu ơi, cậu bệnh hả? Con mua thuốc cho cậu nha” nhưng A lắc đầu, đầu óc vẫn chìm trong mộng tưởng. Cô cháu sợ cậu đói, mang cơm lên tận phòng…

Cả đêm A thức trắng, chỉ mong trời mau sáng để xem phép thuật của lão già cổ quái kia linh nghiệm ra sao dù với chút tỉnh táo còn sót lại, A cho rằng đó chỉ là cơn hoang tưởng. Sáng ra cô cháu còn lo sợ nên trước khi đi học lên hỏi sức khỏe cậu, A trấn an, nói mình không sao. Đúng tám giờ sáng, A ra ngân hàng nơi mình đăng ký tài khoản và suýt ngất xỉu khi nghe cô nhân viên ngân hàng thông báo, số tiền trong tài khoản của A tăng vọt lên gần một tỷ đồng. Cố trấn tỉnh, A lắp bắp: “Tôi… tôi có thể rút số tiền này ra bây giờ không?”. Cô nhân viên ngân hàng gõ lộp cộp trên bàn phím máy tính, sau đó thông báo: “Do tài khoản của quí khách tăng đột ngột và nơi chuyển đến chưa được xác minh, nên xin mời đầu giờ chiều quí khách quay lại, chúng tôi sẽ làm thủ tục để quí khách rút tiền”. A rời ngân hàng như đi trong cơn mơ. Vậy là ông già kia nói thật. Chắc ông ta là ông Bụt giữa thời loạn này. Vậy là bước đầu anh đã có trong tài khoản một tỷ đồng. Tiền đó chỉ mấy tiếng đồng hồ nữa sẽ nằm trong túi anh, những dự định tiêu tiền rồi sẽ thành sự thật. Bạn bè rồi sẽ không còn nhìn anh với ánh mắt khinh khi, các cô gái sẽ thôi trốn tránh anh, bà chị sẽ hết cằn nhằn, những cuốn tiểu thuyết bìa cứng sẽ ra đời và …cuộc đời A rồi sẽ đổi thay từ đây!

A lang thang khắp thành phố vì nôn nao không muốn về nhà. Đúng 2 giờ chiều, anh quay lại ngân hàng. Cô nhân viên ngân hàng mỉm cười nhìn A trìu mến: “Chúng tôi đã xác minhh, số tài khoản và tiền của quí khách hoàn toàn hợp lệ. Giờ quí khách cần rút ra bao nhiêu?”. Niềm vui như nổ tung trong đầu A. Anh lắp bắp: “Cho tôi rút, cho tôi rút…”. Ngay lúc đó điện thọai trong túi A reo vang, A cầm điện thoại lên, thấy tên bà chị vội bật nghe. Tiếng bà chị gào khóc vang lên: “Cậu về liền đi, con bé Hai chết rồi cậu ơi!”. Tưởng  nghe lầm, A thảng thốt: “Chị nói gì, ai chết?” “Con bé Hai, nó dại dột, nó chết rồi, cậu về nhà ngay đi!”.

A ù té chạy ra cửa trước con mắt ngạc nhiên của các nhân viên ngân hàng. Anh hộc tốc về nhà. Hàng xóm xúm đen trước cửa. Anh gạt ra. Lao lên lầu nơi có tiếng khóc rền rĩ của người chị. Ngay tại phòng anh xác đứa cháu thân yêu đã được đem xuống đặt trên nền nhà, mặt cháu bé sưng phù vì thắt cổ. A như đổ gục xuống bên xác cháu, thều thào: “Vì sao cháu ơi, vì sao cháu lại làm điều này”. Bà chị ngất lên ngất xuống vì đau đớn, đưa cho A một tờ giấy học trò: “Đây, cậu coi đi, nó làm mất tiền của lớp, chỉ có năm ngàn mà bị cô giáo, bạn bè nghi ngờ ăn cắp, nên nó mới dại dột như vầy, con ơi là con ơi… có năm ngàn sao phải chết con ơi!”

A lập bập đọc lá thư tuyệt mệnh của cháu gái. Nét chữ rõ ràng: “Cháu là thủ quỷ, giữ tiền cho lớp, lớp cháu 50 bạn, sáng ra mất năm ngàn, cháu nói là mình không lấy nhưng các bạn và cả cô giáo cứ nghi ngờ, cháu phải chết để chứng minh mình trong sạch”. Trời ơi! A gào to một tiếng. “Một trăm của mỗi người”. Trời ơi! Anh lao ra ban công. Từ lầu ba cắm thẳng đầu xuống nền đất cứng!

Viết lại vào ngày 10.4.2013
(Đã in trong tập KIỀU- NXB Sống- Hoa Kỳ)


Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Tướng cụt đầu!



Cộp! Cộp! Cộp! Cộp! Cộp! Cộp!

Tiếng vó ngựa phi dồn dập trên đường, tất cả mọi người đều biết thời khắc này đúng là nửa đêm và ngày mai nhất định trời sẽ mưa!

“Đại tướng quân đang đi tuần! Tội nghiệp Ngài!”. Các vị bô lão trong làng thầm thì với con cháu như vậy. Thầm thì một cách kính cẩn. Nhiều người còn đốt hương trên bàn thờ lâm râm khấn vái. Đám trẻ nít, nếu còn thức, co rúm người lại, nhào vào lòng ông bà, cha mẹ, chui vào chăn nhưng vẫn hé hé mắt ra nhìn và nín thở nghe ngóng. Những thanh niên trai tráng dạn dĩ hơn khi nghe tiếng vó ngựa dồn dập mỗi lúc một gần trên đường thì hé liếp cửa nhìn ra màn đêm đen mịt mù. Còn những đêm trăng mờ, trong ánh trăng run rẩy giữa làn sương và khí núi huyền hoặc, họ trông thấy vụt qua cửa nhà mình một hình nhân đang phi ngựa. Một hình nhân mặc áo giáp chiến binh, cầm giáo dài. Một vị tướng, nhưng rùng rợn ở chỗ đó là một vị tướng cụt đầu!

Tất cả mọi người dân trong làng đều biết câu chuyện này dù nó đã xảy ra cả thế kỷ trước, bởi cái kết cục bi thảm do thói nghi ngờ ấu trĩ của con người đã diễn ra ngay tại đây!

Đó là chuyện ông Hồng Lô Nguyễn Hiệu, vì hưởng ứng chiếu Cần Vương đã rút quân về vùng núi Trung Lộc, lập căn cứ đánh Tây. Trung Lộc là một thung lũng rộng, bao phủ xung quanh là những ngọn núi cao hiểm trở. Thời ấy chỉ có một con đường độc đạo dẫn vào tổng. Một con đường đèo mang một cái tên đủ nói lên sức hiểm trở của nó: Đèo Le!

Với vị trí địa lý hiểm trở như vậy, ông Hồng Lô Nguyễn Hiệu đã xây dựng nên một căn cứ quân sự vững chắc. Nghĩa quân của ông chỉ trang bị vũ khí thô sơ là giáo mác. Oai nhất, là niềm tự hào của căn cứ, là một khẩu thần công được tôn xưng là “Thần Công Đại Tướng Quân”. Đây là loại súng được đúc từ những triều Nguyễn đầu tiên. To lớn, nặng nề, nòng dài, và đạn là những viên tròn to, đúc bằng gang!

Thanh thế quân khởi nghĩa ngày càng lớn mạnh. Dựa vào vị trí hiểm trở, Hồng Lô Nguyễn Hiệu đã đem quân phục kích những toán quân Pháp đi lẻ tẻ và thu nhiều thắng lợi. Tất nhiên đây là những thắng lợi nhỏ, thế nhưng chỉ riêng nội việc hưởng ứng chiếu Cần Vương thôi, Hồng Lô Nguễn Hiệu đã vang danh thiên hạ. Khi vua Thành Thái bị bắt và bị người Pháp đưa đi đày, triều đình ra lệnh ông bãi binh, thế nhưng ông chống lại, phẩy tay bảo sứ giả:

-    Về đi! Ta chỉ bãi binh khi không còn lũ giặc Tây Dương trên đất nước này. Cành vàng lá ngọc như Đức Kim Thượng mà còn phải bôn ba, giờ lại chịu đày ải nơi xứ lạ quê người thì thân này còn kể làm chi!

Bắt đầu từ đó dân chúng bỏ làng tự nguyện vào căn cứ rất đông. Nghĩa quân càng ngày càng lớn mạnh. Giặc Pháp bắt đầu chuẩn bị kế hoạch tấn công vào vùng kháng chiến.Chúng tổ chức những cuộc đi ruồng bắn súng, đốt phá thị uy và treo giải thưởng cao cho những ai lấy được đầu Nguyễn Hiệu.

Chính vào thời điểm ấy, vị chỉ huy dũng cảm quyết định tấn công bọn giặc cướp nước. Ông chọn một đêm tối trời để hành động. Nghĩa quân được lệnh xuất phát. Mục tiêu là đồn Trung Lộc. Nơi có một trung đội lính Pháp thường xuyên đóng quân và vẫn gây ra những cuộc tuần diễu, bắt bớ, hãm hiếp dân lành, đốt phá làng mạc.

Hồng Lô Nguyễn Hiệu cưỡi ngựa, đầu chít khăn đỏ dẫn đầu đoàn quân. Ngay sau ông là đội pháo binh đẩy súng thần công một cách khó nhọc qua những con đường dốc đứng.

Họ đi một cách bí mật để tạo thế bất ngờ. Đồn Trung Lộc đã hiện ra, mờ mờ trong đêm. Khẩu thần công được đưa càng lúc càng gần mục tiêu. Đồn đã nằm trong tầm đạn. Chuẩn bị! Lắp đạn! Khai hỏa!

“Ầm!”. Một tiếng long trời lở đất. Thần Công Đại Tướng Quân gầm lên. Tia lửa lớn khạc ra. Viên đạn gang rít lên bay về phía đồn. Nhưng... viên đạn đã không tới mục tiêu. Nó rơi trước sân đồn tạo ra một va đạp mạnh giữa gang và... đất rồi nằm im! Quân Pháp sau phút đầu kinh hoàng bạt vía vì tiếng nổ đã bắt đầu phản công bằng những loạt súng trường. Xung phong! Tiến lên diệt bọn Tây Dương! Tiếng của Hồng Lô Nguyễn Hiệu sang sảng giữa trận tiền. Thế nhưng chỉ với giáo mác thô sơ cộng với một khẩu thần công bắn đạn gang, quân khởi nghĩa dù dũng cảm đến đâu vẫn không thể nào chiếm được đồn Pháp với súng trường và công sự kiên cố được lập cho một cuộc chiến lâu dài!

Quân khởi nghĩa bị tổn thất khá nặng. Sợ trời sáng quân địch sẽ phản công mạnh hơn, Hồng Lô Nguyễn Hiệu ra lệnh rút quân. Cuộc tấn công bất thành, thế nhưng tiếng vang của nó lan rộng trong toàn quốc. Danh tiếng Hồng Lô Nguyễn Hiệu trở thành niềm kính phục cho toàn dân và nỗi hãi hùng cho giặc Pháp. Nhiều danh sĩ và tướng tài vùng xuôi biết tài ông nên đã tìm cách về đầu quân cùng chống giặc. Một hôm Nguyễn Hiệu nhận được một bức thư xin được nhận ông là thủ lĩnh. Người viết thư là một tướng trẻ của triều đình nay đang sắp sửa nhận lệnh phải liên quân cùng giặc Pháp và vì vậy ông ta muốn đem toàn bộ đội quân của mình về căn cứ kháng chiến. Cảm phục lòng dũng cảm của Hồng Lô Nguyễn Hiệu, không đồng ý với thái độ hòa hoãn của triều đình, vị tướng trẻ này xin được trở thành quân khởi nghĩa.

-    Người hãy ra hậu trại nghỉ ngơi. Ta sẽ phúc đáp sau!

Nguyễn Hiệu bảo với người mang thư như vậy rồi vào trướng bàn bạc với những mưu sĩ của mình. Thời khắc nặng nề trôi qua. Sau đó ông ra, thảo một bức thư, mời duy nhất vị tướng trẻ kia lên căn cứ để cùng nghị sự trước khi nhập hai đạo quân vào làm một.

Mấy ngày sau dân làng, nơi tiếp cận với căn cứ, nhìn thấy một vị tướng trẻ kiêu dũng cỡi trên lưng con ngựa ô phi vùn vụt qua làng. Vó ngựa dồn dập trên đường làm tung ra từng đám bụi mù rồi khuất dần sau hẻm núi dẫn vào khu vực của nghĩa quân chiếm đóng.
-    Một vị tướng như vậy mà về đầu quân cho ngài Hồng Lô thì quân ta sẽ chỉ có chiến thắng thôi!

Các cụ già đắc ý vuốt râu nói chuyện với nhau. Thế nhưng ngay trong đêm ấy, vào lúc nửa đêm, họ lại nghe tiếng vó ngựa phi dồn dập và có cả những tiếng thét dài rùng rợn. Tiếng thét như căm phẫn vì một nỗi hàm oan!

Cả dân làng hốt hoảng. Tiếng vó ngựa vẫn phi dồn dập qua làng. Họ chạy ra xem và rụng rời hốt hoảng quì sụp xuống.

Hiện ra trước mắt họ như một giấc mơ bi tráng là vị tướng kiêu dũng đang phi vùn vụt trên lưng con ngựa ô. Nhưng vị tướng đã mất đầu!

Ngày hôm sau trong căn cứ phát tang. Đích thân Nguyễn Hiệu làm chủ tang cho vị tướng trẻ mà ông đã ra lệnh cho nghĩa quân mai phục ở hẻm núi giết chết trên đường ông ta trở về. Những nguồn tin lọt ra từ căn cứ địa cho mọi người biết rằng chính những mưu sĩ của Nguyễn Hiệu đã không tin tưởng ở vị tướng kia. Họ cho rằng ông ta trá hàng để làm nội công cho quân Pháp đánh úp căn cứ. Nguyễn Hiệu tin lời họ và giết ông ta.

Thế nhưng linh hồn anh linh của người dũng tướng đã làm ông thức tỉnh. Nhưng cũng như mọi sai lầm nghiêm trọng khác, sự thức tỉnh ấy đã muộn!

Từ ngày đó, thỉnh thoảng dân làng nghe tiếng ngựa phi dồn dập lúc nửa đêm. Ra xem thì chính là vị tướng cụt đầu cùng con ngựa ô to lớn. Thế nhưng không hiểu sao mỗi lần như vậy cứ y như là ngày mai trời sẽ có mưa rất lớn. Thời gian trôi qua. Mọi sự dần thay đổi, Hồng Lô Nguyễn Hiệu vẫn vang danh thiên cổ dù cuộc khởi nghĩa bất thành nhưng ít ai biết đến câu chuyện bi thảm về người dũng tướng kia ngoại trừ dân làng tôi, một cái làng nhỏ nằm ép mình bên dãy núi cao nơi ngày xưa là chiến khu Trung Lộc.

(Trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục)


Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...