Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy Bút. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tùy Bút. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực!



Sáng, bật tình cờ một bản nhạc, lại ra bài “Chiều” của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, bỗng nhớ Hồ Dzếnh, tác giả bài thơ được phổ nhạc này
.
Hóa ra không có chuyện gì tình cờ, dù những ý nghĩ, bởi trước đó chừng 30 phút, tôi đọc môt bài phóng sự trên RFA về thân phận xót xa của những phụ nữ miền Tây ly hương tìm đất sống. Với thơ Hồ Dzếnh, từ hồi học tiểu học, tôi đã đọc và không hiểu sao rất thích bài thơ “Cảm xúc” của ông, có thể ông viết về một bóng hồng của mình nhưng ngay từ ngày đó, đã mô tả người phụ nữ Việt với nhiều thua thiệt: “Cô gái Việt Nam ơi! Từ thuở sơ sinh lận đận rồi”…
Hồ Dzếnh, là một nhà thơ khá nổi tiếng trước năm 1945 với tập thơ “Quê ngoại”, và tập truyện ngắn “Chân trời cũ” (đều in năm 1942). Sau 1954, ông sống tại Hà Nội nhưng hoàn toàn “mất dấu” trên văn đàn (ông mất năm 1991). Có thể nói người miền Nam, học sinh miền Nam, biết về tác phẩm của ông nhiều hơn hẳn người miền Bắc, bởi tại miền Nam trước 1975, tập thơ “Quê Ngoại” được NXB Hoa Tiên tái bản tại Sài Gòn, bài thơ “Chiều” được được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc khá nổi tiếng. Bài thơ "Ngập ngừng" cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc như Anh Bằng (Anh cứ hẹn), Hoàng Thanh Tâm (Em cứ hẹn), Minh Duy (Ngập ngừng) hay Trần Thiện Thanh lấy ý thơ này để viết ca khúc Chuyện Hẹn Hò.
Ngoài ra thi sĩ Bùi Giáng cũng nhiều lần viết về ông, ca tụng lục bát của ông còn hay hơn… Nguyễn Du, bởi bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Dzếnh, theo Bùi Giáng trong cuốn Thi ca tư tưởng thì: "Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia của Hồ Dzếnh". Hehehe!
Vì sao sau 1954 ông không viết và in thêm? Có lẽ ông đã chọn cho mình thái độ sống lặng lẽ trong một chế độ toàn trị, bởi không muốn a dua cùng thời cuộc. Ông đã đúng, bởi có viết thêm như Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư… thì cũng chỉ là thứ tụng ca minh họa chính trị sống sít, vô hồn, vô giá trị!
Quay trở lại bài thơ tôi yêu từ khi 10 tuổi, tôi xin đăng lại nguyên bài:

Cảm xúc

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi
Tôi biết tình cô u uất lắm
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi
Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
Khi cô vui thú, là khi đã
Bồng bế con thơ, đón tuổi già
Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi
Tôi đến đây tìm lại bóng cô
Trở về đường cũ, hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước
Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ
Dãi lúa cô trồng nay đã tươi
Gió xuân ý nhị vít bông cười...
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
Trong một làng con, đã héo rồi!
Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Hồ Dzếnh
Có lẽ ngay từ bé, tôi đã trân trọng, yêu quí phụ nữ và chọn thái độ bình đẵng giới là từ những bài thơ như thế này.

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Hoài niệm bánh ít



Ở  Sài Gòn tôi vẫn thường dừng chân bên những chợ nhỏ như chợ Cây Thị, tiếp giáp giữa Gò Vấp và Bình Thạnh để mua những thứ bánh trái dân dã mà tôi và gia đình rất thích. Tôi không sinh ra ở miền Tây nhưng từ tuổi thiếu niên đã sống ở vùng sông nước đó rồi làm rể xứ này, giờ dù về sống tại Sài Gòn nhưng tôi vẫn là “môn đồ” của những món ăn mang hương vị quê mùa, hương vị của một vùng đất với tấm lòng rộng mở.

Tôi nhớ những ngày thuở xưa, khi miền đất tôi sống, một huyện thuộc tỉnh Hậu Giang bây giờ, còn đò giang cách trở, phương tiện đi lại chỉ là những chiếc xuồng hay ghe tam bản, lúc đó những ngày tết Nguyên Đán hay tết Mùng Năm mới vui làm sao. Nhà nhà đãi nếp, xay gạo, gói đủ các loại bánh trái. Bánh tét, bánh lá dừa, bánh ú…, và đặc biệt là bánh ít vì tôi rất thích loại bánh này.

Những ngày mưa nhiều của tết Mùng Năm, khi đó các căn bếp thiệt rộn ràng. Từ sáng, hoặc khi trời hửng nắng, những chàng trai hay người chủ gia đình đã đi lựa để chặt những tàu chuối lớn. Gạo đã xay từ đêm qua hoặc đêm trước nữa, đang trong “bồng”. Bồng là một loại bao làm bằng vải rất dày, khi cho gạo đã xay kỹ vào thì chỉ có nuớc rỉ ra chớ bột thì còn lại. Sau một ngày đêm dằn bột, thường là dưới một vật nặng như nửa trên cái cối xay, cục bột đã ráo nước và khi mở bồng ra, người ta phân làm hai, một nửa đem phơi khô còn phân nửa để nguyên như vậy.

Trong khi đó các dì, các cô rửa lá chuối cho sạch. Từ những tàu lá chuối đã chọn, đợi nắng lên đem ra phơi cho mềm lá sau đó họ rọc ra và xé thành những miếng nhỏ vừa phải rồi cắt tròn góc. Đậu xanh đãi vỏ được bắt lên chảo, nấu cho nhừ rồi nêm nếm vừa ăn sau đó vắt thành những viên nhưn. Nhưn bánh ít còn có dừa làm nguyên liệu. Phải chọn cho được những trái dừa vừa cứng cạy, còn kêu là dừa rám, nạo ra, xào với đường và cũng vắt lại làm nhưn.

Thường thì nhà nào cũng làm cả hai loại bánh ít ngọt nhưn đậu và bánh ít nhưn dừa. Loại bột trắng không phơi để gói bánh dừa ngọt còn bột khô thì nhào với đường thẻ, lá dứa trở thành một khối màu xanh lá nhưng khi hấp lên thì trở thành màu sậm coi rất bắt mắt.

Nhiều gia đình có đông người làm, còn làm bánh ít trần, tức lá bánh ít không gói lá. Bánh ít trần nhưn mặn cũng là món ngon hấp dẫn nhiều người vì vị béo của thịt và vị ngọt đậm đà của tôm, hương nồng nàn của hành lá. Mỗi nhà thường có những cách làm, công thức không hẳn là giống nhau, nhưng khi tôi ghi chép điều này, tôi đã xin được sự “tư vấn” của bà xã mình, một phụ nữ miền Tây chính cống thì cách làm bánh ít trần như sau:

Mua thịt dăm ngon, xay hoặc quyết nhuyễn rồi ướp với tiêu, nước mắm, bột ngọt, và một phần hành lá bằm nhỏ. Tôm thì chọn lại tôm thẻ ngon hay tép bạc, làm thật sạch và cũng bằm nhỏ rồi trộn chung với thịt.

Cho một ít dầu vào chảo, cho hỗn hợp thịt vào xào chín, rồi cho đậu xanh đã tương đối nhừ và ít nước sạch, nấu sôi trộn đều, nêm nếm gia vị gồm có muối, đường, tiêu đã xay cho vừa ăn, sau đó bắt chảo xuống, để nguội rồi vo viên thành những “cục nhưn”.

Sau đó cho nước ấm vào để nhồi bột và cũng vo thành viên bằng nhau, sau đó cán mỏng thành những miếng tròn như cái bánh phồng, đặt cục nhưn vô giữa và khéo léo cuốn lại, tạo hình như ý muốn.

Cả bánh ít gói lá và bánh ít trần đều làm chín bằng cách chưng cách thủy. Bánh ít gói lá thì lột ra ăn từng cái còn bánh ít trần nhưn mặn khi ăn xếp vô dĩa chừng năm đến sáu cái, lại chan nước cốt dừa và rưới mỡ hành, các loại đồ chua và ít tóp mở chiên dòn lên trên, cộng thêm chén nước mắm pha chua ngọt bên cạnh.


***

Những lần nhớ miền Tây, tôi thường đố chơi các con tôi:

Bánh gì mình dẹt, nhưn tròn?
Tên là bánh ít, thảo thơm thì nhiều?

Hay:

Bánh gì ăn ít mà nhiều?
Bánh gì cả thúng vẫn kêu chưa vừa?

Hoặc khi chúng còn nhỏ, tôi lục trong trí nhớ của mình, kể một câu chuyện cổ tích về sự tích bánh ít. Ngoài bánh chưng, bánh dày mà người miền Tây gần như không biết, thì bánh ít cũng được kể lại bắt nguồn từ thời các vua Hùng. Chuyện kể rằng ngoài Lang Liêu, Hùng Vương thứ 6 còn có một nàng công chúa Út. Và chính từ chiếc bánh chưng, bánh dày của anh trai, nàng đã sáng tạo ra cái bánh ít bằng lấy chiếc bánh dày bọc lấy nhân của chiếc bánh chưng và phỏng theo hình dạng của bánh chưng và bánh dày để gói thành kiểu bánh mới. Để thể hiện sự khiêm nhường của mình, công chúa Út làm nhỏ lại, ví phận mình chỉ là út ít. Từ đó, bánh của nàng Út được lưu truyền trong dân gian cùng với bánh chưng và bánh dày và dân gian gọi là bánh nàng út ít, sau thì gọi gọn thành bánh ít. Từ ngày đó đến bây giớ, chiếc bánh ít xưa đã thay hình đổi dạng khi dân tộc Việt tiến dần về phương Nam, nhưng hầu như cả ba miền, bánh ít luôn là lễ vật trên bàn thờ tổ tiên trong ngày giỗ, ngày tết. Trong các đám giỗ, khi tiễn khách về, người nhà còn gởi theo cho khách một ít quà bành, trong đó chắc chắn có năm ba chiếc bánh ít.

Tuy đơn giản như vậy, nhưng những hình ảnh thân thương của bức tranh quê ngày cũ giờ đã dần lùi xa. Những đứa trẻ thành phố không phải cháu nào cũng biết các loại bánh mà không phải thời gian xa xôi lắm, ba mẹ chúng từng sung sướng khi được ăn trong những ngày giỗ, ngày Tết. Ngay cả tại quê ngoại của các con tôi, vùng trung tâm đồng bằng nhưng giờ thưa người, giao thông thuận tiện, khi nhà có đám tiệc việc gói bánh cũng không thường xuyên như thời trước và người dân quê cũng quen dần với những hộp “bánh tây” nhiều màu, gọn nhẹ, rẻ tiền…

Trong những mùa hè bây giờ, khi cùng gia đình về miền Tây vừa ăn tết mùng năm, hay đám giỗ kết hợp cho các con thăm ngoại, về quê, “du lịch dã ngoại miễn phí”,  tôi thường ngồi bên hiên nhà sau, có khi buổi trưa nắng vàng, có khi trong những chiều mưa nhỏ, nhìn về một chiếc cối đá to bị bỏ quên bên góc vườn. Tôi nhớ rất rõ hình dáng thanh mảnh của nàng đi giữa các bờ mương chọn những tàu chuối lành lặn nhứt để làm bánh ít. Nhưng giờ thì mẹ chúng tôi đã già, con cháu phần lớn đi xa hay bận việc áo cơm, nên việc xay bột, bồng bột, chọn lá gói bánh trở thành nhiêu khê. Và chọn lựa được đưa ra là nhờ một bà cụ vẫn giữ truyền thống bằng nghề làm các loại bánh cổ truyền, gói theo đơn đặt hàng. Những chiếc bánh tét, bánh dừa, bánh ít… bà cụ gói cũng đẹp, cũng ngon, nhưng hồn cốt xưa đã phần nào mai một.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

(Bài đã in trong tập "Hương vị miền Tây"- nhiều tác giả- sẽ in trong tạp bút "Miền Tây- chưa xa mà đã xưa")





Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

Nhớ xe lôi

Nhớ… xe lôi
Tạp bút



Nhớ… xe lôi
Tạp bút

Vài ba năm trước, tôi cùng nhạc sĩ Tuấn Khanh và nhà thơ Trần Tiến Dũng về Cần Thơ chơi, Cần Thơ khi đó đã là một thành phố nhộn nhịp, các hãng taxi đang phát triển rầm rộ và chỉ cần một cuộc gọi là ít phút sau xe đã sẵn sàng… Ngồi trong xe máy lạnh, nệm êm, an toàn nhưng trong lòng tôi vẫn không thấy vui mà cứ nhớ hoài về một phương tiện giao thông cũ giờ đà mất dấu: xe lôi! May làm sao, buổi tối khi đang ngồi cà phê cóc trước khách sạn, chờ đến giờ hẹn cà phê với một cô gái xinh đẹp Cần Thơ, chúng tôi mừng rơn khi nhìn thấy một chiếc xe lôi từ hướng Bình Thủy chạy về. “Ê, xe lôi, xe lôi!”. Tôi đã kêu lên như vậy, một tiếng kêu xe mừng rỡ như thể đứa bé mừng mẹ đi xa trở về. Đêm hôm đó, ba người chúng tôi đã ngồi trên một chuyến “xe lôi chui” để vi vu với giá cả khá rẻ so với taxi, mà lại cực kỳ vui vẻ vì cảm giác thân thiện, hòa nhập vào không khí yên bình của một thành phố đồng bằng, chỉ có khuôn mặt của anh tài xế vẫn đầy nét lo âu vì vừa chạy xe vừa canh chừng cảnh sát giao thông, bởi từ giữa năm 2007, chính quyền đã khai tử loại xe này bằng một lệnh cấm!

Trước năm 2007, xe lôi là phương tiện giao thông, chuyên chở phổ biến nhất vùng đồng bằng miền Tây (trừ thành phố Mỹ Tho dùng xe xích lô như Sài Gòn).

Theo một số nghiên cứu, tại “lục tỉnh” xe lôi xuất hiện bắt nguồn từ những chiếc xe lôi (kéo) tay thời người Pháp bắt đầu xây dựng Nam kỳ, nghĩa là cũng có lịch sử cả trăm năm cải tiến. Đến những thập niên 1950-1960 đă xuất hiện xe lôi máy từ loại xe Mobylette của Pháp, sau đó là các loại xe của Nhật như Honda, Suzuki, Yamaha bởi đầu kéo mạnh, bền nên được ưa chuộng, và đứng đầu là loại Honda 67, sử dụng rộng rãi.

Dù vậy, ở miền tây, mỗi một tỉnh xe lôi lại có những dáng vẻ tương đối khác nhau. Xe lôi ở Cần Thơ có mui che khi cần có thể xếp lại được, còn xe lôi Sóc Trăng có dạng như xe thổ mộ của Sài Gòn, có hai khoang mui kín và chở được nhiều người hơn so với xe lôi ở Cần Thơ. Thời kinh tế khó khăn sau năm 1975, xe lôi Hậu Giang, Cần Thơ lại cải tiến cho 2 bên càng xe rộng thêm, lợi dụng sức kéo mạnh của chiếc Honda 67 chở nhiều khách hơn. Thập kỷ 80 của thế kỷ trước, tôi từng đi trên những chiếc xe lôi chở đến 7 người lớn gồm 6 người ngồi trên thùng xe, 1 người ngồi sau lưng bác tài, như vậy tổng cộng là… 8 người! Thật ấn tượng!

Không chỉ chở người, ngày đó xe lôi còn là phương tiện chở hàng hóa. Khắp các nẽo đường miền Tây từ đô thị đến nông thôn, xe lôi chạy nườm nượp nhìn rất vui dù rằng người chạy xe lôi thường nghèo nhưng có một chiếc xe lôi, một chỗ “đậu tài” tại một bến xe nào đó là đủ nuôi sống vợ con…

Còn nhớ những năm cuối 1980 đầu 1990, tôi thường có những đêm dài lang thang cùng một người bạn thân tại thành phố Cần Thơ. Tại thành phố này, các bến xe lôi lớn nhất là bến Ngô Quyền, bắc Cần Thơ, bến Võ Văn Tần... nhưng thật ra ở khắp các vỉa hè, trước cổng bến xe khách, trước cổng bệnh viện, khách sạn, bến tàu, đầu hẻm hoặc trên đường đi, lúc nào hành khách cũng có thể dễ dàng ngoắc tay là có xe lôi dừng lại ngay.

Trong các cuộc trò chuyện của mình với các bác tài xe lôi, tôi được biết không ít trong số họ là sĩ quan hoặc binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi được đi "cải tạo" về, không nghề nghiệp, chỉ còn biết gom góp chút tiền, nếu may mắn còn chiếc honda cũ, thì mua thêm cái thùng lôi, kiếm chỗ đậu tài kiếm sống! 

Những biến động chính trị tại VN góp phần thêm vào những oái ăm của định mệnh. Có lẽ trong thế giới của những hoàng tộc, số phận của nhiều hậu duệ triều Nguyễn khá bi đát. Vào năm 1949, theo một số nhận định, để thực hiện biện pháp chia rẻ, Vĩnh Giu, một trong 19 hoàng tử của vua Thành Thái đã bị người Pháp đưa xuống Cần Thơ làm việc bên ngành cầu đường thuộc Ty Giao thông Công chánh. Tại đây, ông đã yêu một cô gái miền Tây mặn mà. Cuộc hôn nhân của một hoàng tử thất thế và cô thôn nữ vùng đòng bằng quê gốc Cần Thơ đã có một kết quả khá “phồn thực” vỏi 7 người con. Tuy vậy cuộc sống của gia đình hoàng tử này rất khó khăn, thậm chí để có tiền nuôi con, ông Vĩnh Giu còn đi làm nhạc công cho các quán bar tại Cần Thơ, dù vậy các con ông vẫn không thể theo học lên cao. Sau năm 1975, cuộc sống gia đình ông càng bi đát hơn, Vĩnh Giu thôi làm làm ở Ty Giao thông Công chánh Cần Thơ, và phải sống nhờ nhà mẹ vợ trong một con hẻm trên đường Phan Đình Phùng. Tại đây, ông Vĩnh Giu làm nghề sửa xe đạp để mưu sinh và mất trong nghèo khổ. Một trong nhưng con trai ông là Nguyễn Phước Bảo Tài, tức cháu nội vua Thành Thái, giạt về vùng ngoại ô xa xôi là thị trấn Cái Răng, và mưu sinh bằng nghề chạy xe lôi tuyến Cái Răng- Cần Thơ.

***

Ta tạm quên số phận hẩm hiu của gia đình hoàng tộc này để trở lại với những bước thăng trầm vận vào chiếc xe lôi.  Ngoài việc chở khách thông thường, xe lôi khi ấy gần như là phương tiện duy nhất của các cánh bướm đêm lang bạt. Sau 11g đêm đến gần sáng, từ các quán bia ôm, các em mặt đầy son phấn túa ra, khi đó các "mối xe lôi" đã sẵn sàng đưa các cuộc đời kỷ nữ về những phòng trọ tồi tàn hay những khách sạn rẻ tiền để tiếp tục cuộc bán mua. Và buổi sáng, những chuyến xe lôi đặc biệt đó cũng sẵn sàng chờ đợi, đón đưa những mảnh đời rách nát..

Nhưng như đã biết, đến đầu năm 2008, tại Cần Thơ và nhiều nơi khác thuộc đồng bằng sông Cửu Long, xe lôi đã bị cấm hoạt động, và nếu còn, chỉ là xe lôi chạy chui.

Du vậy vài năm trước, khi đi chơi vòng quanh đồng bằng cùng mấy đứa em trai, tôi vẫn còn nhìn thấy xe lôi ở các tỉnh, thị xã, huyện.. vùng biên như Châu Đốc, Tịnh Biên, Rạch Giá... và chúng tôi đã dùng xe lôi đạp đi quanh thành phố Hà Tiên, nhưng tất nhiên xe lôi đạp chỉ chở được vài người lớn, vì sức người có hạn.

Thú thật tôi không hiểu vì sao nhà cầm quyền các tỉnh miền Tây lại cấm tiệt xe lôi. Nói rằng nó nguy hiểm, dễ gây tai nạn giao thông thì không phải vì phương tiện này tuy nhìn có vẻ mạo hiểm nhưng chưa có thống kê nào cho thấy đi xe lôi dễ tai nạn hơn đi những loại xe khác. Còn nói rằng nó xấu thì lại càng sai, vì cũng như xích lô tại Sài Gòn, xe lôi là một phần “hồn cốt” của Nam Bộ. Dù gì thì giờ đây, xe lôi gắn máy đã gần như hoàn toàn mất dấu tại một số đô thị lớn miền Tây, mỉa mai là thay thế nó, có những chiếc “xe lôi Tàu” xấu xí, kềnh càng dù không chở người nhưng tham gia vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường, càng làm nhói lên bao câu hỏi về một sự lệ thuộc Bắc phương toàn diện của những kẻ cầm quyền.




(Trong tập tạp bút: Miền Tây- chưa xa mà đã xưa)

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Hòa bình, giấc mơ xa vời của nhân loại



Hôm nay 21/9, là “Ngày quốc tế Hòa bình, cũng gọi là Ngày Hòa bình thế giới” với thông điệp “Hòa bình bắt nguồn từ tình yêu thương” và “Hãy trao đi tình yêu thương nhân ngày hòa bình thế giới”.

Việt Nam, kể từ Ngô Quyền dựng nghiệp, có lẽ là đất nước hàng đầu trên thế giới luôn chìm trong chiến tranh chống ngoại xâm và nội chiến, nên với đa số người dân hòa bình không chỉ là ước muốn, một giấc mơ mà còn là một khao khát. Trong cuộc chiến Bắc- Nam tàn khốc trước 1975, người miền Nam luôn khao khát hòa bình, và nếu bỏ qua “chiến tranh ủy nhiệm” từ các cường quốc Nga, Tàu, Mỹ áp đặt trên quê hương thống khổ này, có thể nhận ra người lính Viêt Nam Cộng Hòa chỉ cầm súng để tự vệ.

Người cầm bút miền Nam cũng vậy, trước Hiệp định Paris, với hy vọng chiến tranh chấm dứt, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhạc sĩ Thông Đạt trong ca khúc Tình Em Biển Rộng Sông Dài đã viết những ca từ đầy hoài mong khắc khoải:

Hòa bình ơi,
Tình yêu em như sông biển rộng.
Tình yêu em như lúa ngoài đồng.
Tình yêu em tát cạn biển đông.
Hòa bình ơi, chờ trông nhau như con chờ mẹ
Chờ trông nhau như gió mùa hè
Chờ trông nhau nắng đẹp tình quê

Nhạc sĩ Phạm Duy, đã sáng tác tập Bình Ca cũng với chủ đề này, vẽ lên một bức tranh đầy hoài vọng của người miền Nam:

Này em vang tiếng cười
Giờ chơi không e ngại
Trường lớp đó mới xây là nơi, là nơi
Ngày xưa, giam bao người
Già nua hay thơ dại
Trại cũ đã biến ra trường đời
Hoa hồng nở ở giữa vườn chơi

Này em đã tới giờ
Mẹ đưa em đi chợ
Từ sáng mãi tới trưa, còn lưa
Rồi khi đưa nhau về
Gặp anh hippy trẻ
Mặc áo rách đứng bên nhà thờ
Trông đẹp tựa hình Chúa hiền mơ

Nhưng thực tế đã chứng minh, đó chỉ là giấc mơ. Người cộng sản nhân danh “chiến tranh thần thánh”, phớt lờ hiệp định hòa bình đã ký kết, tiếp tục dội bão lửa xuống miền Nam, hoàn tất cuộc chiến bằng một chiến thắng của họ, và tạo ra một hệ lụy khủng khiếp về sự chia rẻ, hận thù, di tản và sụp đổ văn hóa cho đến ngày hôm nay.

Là người cầm bút tự do, tâm hồn tôi cũng khao khát hòa bình, theo đúng ý nghĩa tốt đẹp nhất của mỹ tự này. Nhưng lý trí tôi nhắc nhở rằng hòa bình thực ra chỉ là giấc mơ xa vời của nhân loại.

Bọn quỷ đỏ còn đó, và nếu không còn quỷ đỏ thì tiếp nối chúng là quỷ đen, quỷ xám hay một thứ quỷ nào đó với những cuộc chiến tranh khắp nơi trên thế giới mà chúng nhân danh, ca ngợi là thần thánh!


Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Trường hợp nhà văn Dương Nghiễm Mậu, nghĩ về số phận của các văn nghệ sĩ sống trong chế độ độc tài.



Nhà văn Dương Nghiễm Mậu là một trong những cây bút hàng đầu của Việt Nam Cộng Hòa. Khi miền Bắc thuộc về Cộng Sản, ông di cư vào Nam và bắt đầu viết văn từ năm 1957. Sức viết của ông cực kỳ mạnh mẽ, chỉ không hơn 18 năm, tính từ khi khởi nghiệp đến khi VNCH sụp đổ, ông đã có một gia tài văn chương đồ sộ, và tên tuổi ông không một ai quan tâm đến văn học VN mà không biết đến. Nhưng thật chua xót, từ 1975 đến khi ông mất vừa qua, nghĩa là 41 năm, hầu như ông đã buông bút, có viết thì rất ít.
Cùng thời với ông, những ai còn ở lại đất nước cũng chịu chung số phận gần giống như vậy.
Nhìn ngược ra phía Bắc, những tài năng văn nghệ như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Huy Cận, Hữu Loan, Quang Dũng, Chế Lan Viên, Đoàn Chuẩn… thì tất cả những gì có giá trị của họ là các tác phẩm viết khi còn tự do tư tưởng. Khi bị ràng buộc, họ im lặng hoặc phải viết những tác phẩm vô giá trị, thậm chí trở thành phản cảm khi hậu thế nhìn nhận lại.
Nhìn ra thế giới, nước Nga trước năm 1917 là một nền văn hóa lớn, ngang tầm thế giới. Các nhà thơ, nhà văn của họ như Puskin, Lev Tolstoy, Dostoyevsky, Turgenev, Sekhov..., hay nhà phê bình Belinxki luôn được ngưỡng mộ bên ngoài biên giới Nga, thậm chí có ảnh hưởng đến các nền văn học khác trên thế giới. Nhưng sau khi Lê nin làm cách mạng, áp đặt thể chế độc tài lên Nga và cả một vùng rộng lớn gọi là Liên Xô, nền văn học Nga đã suy tàn, và di lụy cho đến bây giờ.
Tự do nằm trong tư tưởng. Đúng vậy. Nhưng với văn nghệ sĩ, môi trường tự do mới có thể kích thích sáng tạo. Sống trong u uất, rình rập, và tác phẩm biết chắc không phát hành được, không người đọc... họ khó có thể phát tác hết tài năng của mình. Mà thời gian không đợi ai. Vèo một cái hết một đời người ngắn ngủi.
Chính chế độ độc tài, cấm đoán tự do tư tưởng qua văn bản, đã thiêu rụi mọi tài năng. Nó chính xác là con quái vật hủy hoại Chân Thiện Mỹ!
Nhưng với tôi, chẳng thà không viết hay viết rất ít, vẫn tốt hơn là làm bồi bút!

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2016

Cũng vì ai mà thệ hải minh sơn?



Sáng Chủ nhật, chạy xe vòng qua khu vực trung tâm, trước cổng Dinh Độc Lập hôm nay có một số người bán hoa bên đường, thì ra trong tòa nhà đã thành di tích lịch sử này đang tổ chức một lễ tốt nghiệp hay gì đó cho học sinh (chắc là học sinh trường quốc tế- tôi không đọc thông báo). Khu vực Nhà thờ Đức Bà, Bưu Điện đầy người và xe. Xe dân sự và cả xe cảnh sát, xe cứu hỏa, xe mang loa phóng thanh, xe bus đợi hốt một cuộc biểu tình chưa xảy ra…

Trong con mắt của du khách, có vẻ như thành phố thật yên bình, nhưng trong con mắt một người quan sát thời cuộc, tôi nhìn thấy có những tâm trạng bên lề, tôi nhìn thấy những bạn trẻ đứng ngồi chung quanh khu vực, ánh mắt nhuốm ánh buồn bất lực nhưng vẫn đầy hoài mong. Không chỉ là bạn trẻ, những người trung niên, vài người đứng tuổi, cũng ra đó, chúng tôi nhìn nhau, xa lạ nhưng ngầm thấu hiểu. Một điều gì đó, một nỗi niềm, một bi hận, một đớn đau thân phận, một sợ hãi mơ hồ và một đợi chờ, một niềm tin rằng điều tất yếu rồi sẽ đến, chắc chắn sẽ đến, như than hồng ủ trong tro, chỉ chờ gió lớn sẽ bùng lên.

Ôi Sài Gòn! Vẻ ngoài hoa lệ cũng không che kín hết nỗi tổn thương khi ngay giữa thời bình những rào chắn chống biểu tình tua tủa kẻm gai vẫn hiện hữu từng góc phố trong những ngày cuối tuần.

Từ không khí ngột ngạt, ô nhiễm đầy mùi chết chóc, bỗng nhiên nhiều câu hỏi hiện ra, những chọn lựa cá nhân gắn liền với nhân cách. Xe vẫn chạy, tình yêu đôi lứa vẫn nồng nàn bên nhà thờ cổ, dù sát cạnh bên là mật vụ, là cảnh sát với cái nhìn nghi hoặc.

Chọn lựa nào với đất nước đầy bi thương này? Có người lặng im, theo đuổi cuộc sống vật chất nhưng cũng có người tặng tuổi thanh xuân cho lý tưởng. Có người tìm mọi cách định cư nước ngoài, nhưng cũng có người từ chối nó. Bạn tôi, một nhạc sĩ dấn thân vì cộng đồng từng tâm sự: “Đang ở Mỹ mà nghe chuyện gì ở VN, em chỉ muốn ra máy bay về liền”.

Yêu nước là một tình cảm đầy trừu tượng nhưng có thật. Nó thôi thúc chúng ta luôn nghĩ về những gì có vẻ ngoài chúng ta, dù thật sự nó là chính chúng ta. Bởi ai mà không muốn non sông mà cha ông dựng lên thật sự thanh bình, cho chính ta và những thế hệ sau này.

“Sơn hà trường tại
Cũng vì ai mà thệ hải minh sơn”.


(Trong bút ký “Linh hồn của một thành phố”)

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Sách mới- Đàn bà, đàn ông, facebook!



Rượu miền Tây

Bây giờ thì tại Việt Nam, cả 3 miền Bắc Trung Nam quán nhậu hàng hàng lớp lớp, đệ tử lưu linh nảy nòi khắp chốn cùng quê. Vì sao người Việt lại nhậu nhiều như vậy có lẽ cần có một nghiên cứu nghiêm túc, bài viết này trong những ngày internet chậm như rùa chỉ là những ký ức cũ vui vui có liên  quan đến rượu.

Sau 1975 khi gia đình tôi vào miền tây nam bộ sinh sống, phải nói ngày ấy người miền tây nhậu nhiều hơn hẳn các vùng miền khác. Lớn lên, thời thanh niên tui cũng có thể lai rai vài xị với bạn bè, dù chủ yếu cầm... chai rót rượu cho tụi nó uống vì tửu lượng kém cỏi. Lớn lên chút nữa, thời sau 1988, khi không khí văn nghệ cởi mở hơn, tui bắt đầu gửi thơ tình cho các tạp chí văn nghệ, rồi quen với nhiều anh em văn nghệ đồng bằng, lại thấy bàn nhậu là nơi vui vẻ nhứt. Đi đến đâu cũng rượu, nhưng rất vui, tình cảm lai láng tứ hải giai huynh đệ.

Toàn vùng đồng bằng sông Cửu long hình như ai cũng quen với chuyện nhậu, nhưng rượu thì không giống nhau. Nếu tính từ Sài Gòn tính xuống, tới Long An có đế Gò Đen khá nặng, qua Tiền Giang ruợu miệt Chợ Gạo cũng cháy cổ, nhưng đến miệt Cái Bè, xuống Vĩnh Long, qua Sa Đéc hay xuôi về Cần Thơ, Sóc Trăng, qua An Giang, Châu Đốc...rượu bỗng... lạt nhách, rồi lạ lùng thay xuống đến Cà Mau thì lại nặng đô lên, Nàng Hương có thể rót ra đốt cháy nướng khô! Rượu nặng nhẹ khác nhau, tửu lượng thì nơi đâu cũng có cao thủ hay... hò thủ (uống xong ói, như tui), và cách uống cũng khác. Nếu ở Long An, Mỹ Tho uống rượu bằng cái chung nhỏ thì ở Cần Thơ, Hậu Giang... chơi bằng cốc to, thậm chí ly uống nước, nhưng xuống Cà Mau lại uống bằng chung. Hồi đó ở HVN Cà Mau, có "tục lệ", anh em xuống chơi là nhậu miệt mài, và khi tiễn nhau ra xe đò, nhất quyết người đưa phải mang theo một chai rượu và một cái chung, "chủ" sẽ tiễn "khách" bằng rượu đến khi... xe chạy! Gì chớ vụ này thì "khách" như tui sẽ nhớ suốt đời. Đầu năm 1992, một lần ghé Cà Mau chơi, khi về dù tui hèn hạ năn nỉ, nhưng nhà văn Lê Đình Trường quyết... không tha, mang theo một chai nàng hương ra tận bến xe, báo hại tui ngồi đến Sóc Trăng đành phải xuống vì... ói nhiều quá, đành ngủ lại khách sạn (hổng dám ghé HVN Sóc Trăng luôn), mai về Cần Thơ sớm!!!

Nói chuyện rượu mạnh rượu nhẹ còn nhớ thêm một chuyện vui khác. Đâu năm 1995, khi ấy tui đã ở Sài Gòn, một dịp "đại hội" chi đó, các anh chị Nguyễn Bạch Dương, Trúc Phương, Văn Lệ Trinh rủ về Vĩnh Long chơi, cùng đi có các anh NLC, ĐTB, HND, TNL... Sau khi họp hành xong, hôm sau quí khách, các anh chị Vĩnh Long đưa khách qua cù lao chơi, lúc đó VL bắt đầu làm du lịch sinh thái. Khách được đưa đi chơi tại vườn nhà ông Tám Hổ, nơi đây được đãi các món cá tai tượng chiên xù vớt từ ao lên, bánh xèo, lẫu... do chính gia đình ông Tám Hổ phục vụ. Có ông nhà văn sau khi uống bia đã sứa sứa, nghe giới thiệu ông Tám Hổ tuổi đã ngoài 90 mà vẫn còn khỏe mạnh, uống rượu đế thả ga, đã hứng khởi lè nhè: "Tám Hổ à? Tui đây là... Chín Cáo, em Tám Hổ đây, tửu lượng... vô biên". Câu nói này làm nóng mặt hai anh con trai ông Tám Hổ, chỉ thấy một anh vô nhà sau, lấy ra chai rượu cốt, rót mời nhà văn lễ phép: "Hai cháu xin tiếp chú Chín Cáo". Không biết đó là thứ rượu gì, cứ mỗi người một cốc khá to. Nhưng mới đến cốc thứ 3, nhà văn thần tượng của các em áo trắng đã ngã lăn quay. Hic! Tội nghiệp nhà văn ta, chắc rượu quá nóng, chàng bước ra trước cổng, nằm lăn ra đất, chẳng biết trời trăng, các em học sinh đi học về, phải đi tránh, không thì...giẫm lên chàng. Đến khi cả đoàn xuống võ lãi về lại Vĩnh Long, chàng loạng choạng bước xuống, nước ròng nên chiếc võ lại đậu hơi xa, chàng cắm đầu xuống võ lãi, may nhờ nhà văn chủ nhà mạnh mẽ, đưa cả thân hình ra đở, không thì chẳng biết chuyện gì có thể xảy ra...

Rượu lạt hay rượu mạnh, tửu lượng cao hay thấp, đúng là chỉ có trời mới biết!

(Trong tập ĐÀN BÀ, ĐÀN ÔNG, FACEBOOK)

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

Nhớ cái vỉa hè



Ai hỏi xa Sài Gòn nhớ gì nhứt? Tui nói nhớ vỉa hè!

Có lần ăn cơm tấm vỉa hè trên đường LVS, gặp một nghệ sĩ kịch nói nổi tiếng quần đùi, dép lê, áo thun ngồi trước. Khách đông, y ta còn đẩy cho tui cái ghế nhựa, đá lông nheo cười như… đã quen!

Có lần lang thang gần cầu vượt chân cầu Sài Gòn, tìm hiểu mấy chàng xã hội đen để viết một cái truyện ngắn, ngồi cà phê vỉa hè tán dóc với một chú em tự giới thiệu là Tuấn Đen, tán huyên thuyên cả tiếng đồng hồ thì hắn có điện thoại vội dọt trước, nói “anh ngồi chơi đi, đụ má con đĩ cái nó gọi hoài” (!). Lát về kêu tính tiền, chị chủ cười “thằng Tuấn nó trả hết rồi!”

Có lần ăn cháo lòng ở một xóm đạo Bắc 54 Gò Vấp. Quán vỉa hè trong hẻm. Bữa đó mưa bay bay, vừa ăn vừa ngẫm ngợi đủ thứ chuyện hoang mang. Ăn xong lên xe chạy luôn. Cô chủ ngồi chỗ nồi cháo đầu hẻm chẳng thèm ngó. Chạy một đoạn nhớ là chưa trả tiền vội quành xe lại. Cô chủ cứ cười mím mím. Hỏi sao không níu áo anh, cổ nói: “Khách quên hoài, đâu phải mình anh!”.

Và có cả ngàn lần cùng bạn bè văn nghệ ngồi vỉa hè nói chuyện tào lao, nên cứ xa Sài Gòn thì nhớ. Nhớ cái vỉa hè.


6.15

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Ngẫm nghĩ bên hoa



Mùa mưa, nắng yếu, hoa cũ đã tàn, hoa vừa ươm èo uột dù chăm rất kỹ... Cúc Đà Lạt, cúc vạn thọ, thược dược, hồng... đều thay nhau tàn úa. Bỗng một hôm, thấy trong chậu cũ, một cây hoa mào gà vươn lên mạnh mẽ, nhìn thật kỹ từng sớ lá non, đích thị hoa mào gà. Nhưng mình chưa từng gieo hạt loại này, chắc là nó đến theo gió, theo bước chân chim sẻ...



Mấy cây cúc lá nhám rồi cũng dần tàn, không buồn chăm nữa. Chỉ có cây mào gà lớn vụt lên dù chỉ được hững hờ cho vô một cái chậu cũ, không phân bón...
Rời Sài Gòn hơn nửa tháng, trở về nhìn hoa ngoài ban công chỉ còn lá khô cành gãy, chỉ có chậu mào gà vẫn xanh. Ô, nhưng mà sao nó chẳng ra hoa?
Chờ đợi thêm một tuần thì hiểu, nó không phải là hoa kiểng được chăm bón trong vườn, hoa đủ màu rực rỡ mà chỉ là một cây mào gà hoang dại, họ dền, mọc tràn lan nơi những mảnh đất hoang. Hoa nhỏ xíu, màu sắc đơn điệu, có nơi người dân gọi là cây đuôi lươn!
Dù sao thì cũng đã cho nó vô chậu, thôi để nó sống hết một đời hoa dại dù lòng hơi ấm ức. Bỗng nghĩ vì sao hồng, lan, cúc, thược dược... chăm sóc từng ngày, nước phân đầy đủ mà trái trời trở gió chút đã úa tàn trong khi cỏ hoa hoang dại lại đầy mạnh mẽ lẽ tồn sinh?
Chừng nào thì hoa sẽ vừa đẹp vừa mạnh mẽ đây? Tôi ơi!

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Chiếc đèn ngôi sao sáu cạnh



Tôi nhớ một mùa Trung thu đã xa, xa lắm. Khi đó đất nước đang chiến tranh, gia đình phải rời bỏ quê hương về sống ở một vùng quê ven biển. Ngày Tết Trung thu, hồi đó chưa có nhiều loại lồng đèn được bán như bây giờ. Thường thì người cha trong nhà sẽ làm lồng đèn cho các con của mình. Ba tôi cũng vậy. Ba tôi lại rất khéo tay, nhất là trong chuyện đan lát, nên chúng tôi rất tin tưởng mình sẽ có một chiếc lồng đèn trung thu đẹp nhất xóm…

Một buổi trưa, ba đem về một khúc tre và cởi trần, ngồi ở một góc sân làm lồng đèn cho chị em tôi. Chị tôi mua giấy kiếng đủ màu, muốn một cái đèn hình con cá. Tôi muốn một chiếc đèn ngôi sao. Ba nói được!

Hồi đó tôi còn rất nhỏ, nhìn ba vót, chuốt tre một hồi, tôi buồn ngủ và vô nhà làm một giấc. Khi tôi thức dậy, trời đã gần tối, mọi thứ đã xong. Những chiếc đèn đã được treo lên, đốt đèn cầy bên trong cho giấy kiếng căng bóng, nhìn thật đẹp. Hôm sau là đêm trung thu…

Chúng tôi hớn hở rước đèn từ sân trường về các con đường trong khu vực. Bỗng nhiên tôi nghe tiếng cười khúc khích của mấy đứa bạn rồi tụi nó chỉ chiếc đèn của tôi: “Ngôi sao gì mà sáu cạnh, trời ơi, cây đèn này là đèn trung thu xấu nhất!”. Lúc đó tôi mới nhìn đến cây đèn cầm trên tay mình. Đúng rồi, tại sao ngôi sao của các bạn chỉ năm cánh mà của tôi sáu cánh? Phải chăng ba tôi… không biết làm một chiếc lồng đèn trung thu? Lúc đó dù chỉ 6 tuổi nhưng nghe bạn bè chọc quê, tôi đã biết mắc cở. Tôi thổi tắt ngọn nến, cố tình không cho cây đèn của mình bị chú ý, trong lòng thì ấm ức và chỉ muốn quay về hỏi ba vì sao lại làm cho tôi một cây đèn xấu xí và khác bạn bè như vậy. Bỗng nhiên, có ai đó giữ tay tôi lại. Đó chính là cô phụ trách lớp. Cô hỏi: “Em bị hết đèn cầy phải không? Để cô đốt cho cây khác!”. Tôi thưa: “Dạ, không phải, em tự tắt” “Tại sao em tắt đèn cầy?” “Dạ, tại cây đèn em… xấu quá!”. Tôi trả lời cô mà suýt khóc. Cô nhìn cây đèn, xoa đầu tôi: “Để cô coi, ôi, theo cô đây là cây đèn trung thu rất đẹp, rất đặc biệt” “Thiệt hả cô, các bạn nói nó xấu” “Các bạn chọc em chơi thôi, để cô...”.

Cô đốt nến. Các bạn xúm quanh, cô hỏi: “Các em thấy cây đèn này ra sao?” “Dạ… đẹp!”. Có lẽ sợ cô rầy, nhiều bạn trả lời ấp úng. Cô nói: “Có thể nó không đẹp nhất, nhưng theo cô nó rất đặc biệt, đúng không? Có bạn nào trong lớp mình, có thể có một chiếc đèn như vậy không?”.

Lúc đó các bạn nhỏ mới như hiểu ra rằng cây đèn trung thu của tôi rất độc đáo. Thằng Tư, bạn thân nhất của tôi rụt rè đề nghị: “Bạn cho mình đổi chút xíu thôi, bạn cầm cây đèn của mình đi ha?”. Một số bạn khác cũng nói: “Sau khi bạn Tư cầm đèn, mình cũng muốn được đổi” “Mình cũng muốn…”.

Cô vuốt má tôi: “Thấy chưa? Ai dám nói cây đèn của em là xấu. Bây giờ chúng ta tiếp tục rước đèn rồi quay về ăn bánh”. Tôi đi giữa bạn bè, lòng tôi vui sướng khôn nguôi…

Mấy mươi năm đã qua, từ lâu tôi đã hiểu về sự khác biệc cần thiết trong cuộc sống. Giờ tôi sống ở thành phố, tôi chẳng có tre để tự làm cho các con mình những chiếc đèn. Nhưng mỗi mùa trung thu, tôi vẫn muốn nhìn thấy một chiếc đèn ngôi sao sáu cánh giữa muôn trùng ngôi sao năm cánh như nhau.

Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Mùa hoa đã qua



Trong khoảng hẹp sau nhà mình trên tầng gác, tôi chừa một khoảng trống nhỏ để trồng lan. Mùa nắng lan ra hoa rất nhiều nhưng khi mùa mưa đến, lúc mặt trời xoay theo hướng khác, nhưng cây lan chỉ còn lá xanh. Tôi vẫn cố giữ cách mình chăm lan, nắng thì tưới nước, tỉa lá khô, xịt phân 1 tuần/lần nhưng cũng nhiều lúc thấy nhen nhóm trong lòng một nỗi buồn chờ đợi. Tôi nhớ những mùa hoa tháng trước, khi hầu như các giò lan đều ra hoa, lúc đó những sắc màu rực rỡ đan xen nhau thật vui mắt, và trong lòng dậy lên cái cảm giác thỏa mãn vì công sức của mình bỏ ra…

Rồi có một lần đọc sách, đọc một đoạn đầy minh triết của thiền sư Ajahn Chah người Thái Lan, ông dạy rằng theo Đức Phật, sự vật diễn biến theo đường lối riêng của nó. Khi bạn trồng cây, bạn không thể thúc ép cây mọc nhanh hơn, không cần thiết phải bắt nó ra hoa theo ngày, cứ để cây mọc như chuyện của nó bởi bổn phận của bạn không phải là bổn phận của cây… Chợt hiểu rằng thúc ép hoa ra hoa theo ngày, quả chín theo mùa, trái to hơn bình thường bằng những phương cách như dùng thuốc tăng trọng, biến đổi gien… là một cách phản lại tự nhiên, giống như người viết sách, muốn thiên hạ nhanh chóng biết mình, phải đem vào trang sách những chuyện lố lăng, hỗn tạp, khêu gợi dục vọng… là quan kiến sai lầm, nguyên nhân của đau khổ, diệt vong…

Nhưng ở đời có mấy ai biết việc trồng hoa của mình khác với việc cây ra hoa? Ngay cả Đức Phật và các thiền sư cũng không nói ra sự vận hành của nghiệp lực bởi các vị cho đó là việc vô ích. Giống như việc viết ra một tác phẩm. Việc của nhà văn là nổ lực và nổ lực, còn tác phẩm đó sẽ ra sao, người ta đón nhận nó hào hứng hay lạnh nhạt là sự tự vận hành của nó. Nếu sự nổ lực đó được làm trong sự cố gắng liên tục, hãy tin kết quả sẽ là tốt đẹp. Nhưng ngay chính khi kết quả đã xảy ra, hãy cảm nhận khoái lạc của sự thưởng thức nhưng đừng dính mắc vào nó.

Cứ ngồi hoài nhớ về những hào quang cũ, khác nào tiếc nuối một mùa hoa đã qua, mà cái mùa hoa đó với mọi người và cả bạn, chỉ là ảo ảnh. Khổ (dukha) vì ảo ảnh phải chăng là tuyệt lộ của con người?


Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

Thú phạt


Trừ những phong tục đã trở thành hủ tục tại các vùng miền núi xa xôi, có lẽ miền Tây nam bộ là nơi cuối cùng của đất nước ta sử dụng quyền "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó" trong chuyện hôn nhân bởi cách đây chừng 30 năm, việc này còn khá phổ biến, ngay cả hiện nay, chuyện làm mai- coi mặt- cưới, nghĩa là không cần tình yêu trước khi  thành vợ chồng vẫn còn xảy ra, dù đã ít hơn, tại vùng đất này.

Ngày nay thanh niên đã được toàn quyền tự do tìm hiểu, yêu đương trước khi cưới, dù sau đó họ có sống với nhau bền vững như cha mẹ ông bà mình hay không thì chưa chắc. Nhìn lại thời trước, có vẻ như người miền Tây nam bộ thường áp đặt con cái hơn các vùng miền khác. Trai gái lớn lên, nhất nhất phải nghe lời cha mẹ đi lấy vợ lấy chồng nơi gia đình đã định, dù rằng có khi cái mối duyên ấy là do hai người cha nổi hứng hứa gả con cho nhau trong một... cuộc nhậu!

Tuổi thanh niên tôi sống lâu dài ở trung tâm đồng bằng này và từng chứng kiến rất nhiều nước mắt của những cô gái phải nghe lời cha mẹ đi làm vợ một người mình không yêu, thậm chí chưa từng quen biết. Thường thì bi kịch rơi vào các cô gái, bởi các chàng trai khó bị ép uổng hơn, và những chàng trai lấy vợ sắp đặt thường nhút nhát, hoặc hời hợt và khi coi mắt, thấy cô gái xinh đẹp thì dễ gật đầu.

Thế nhưng ngay cả từ những năm tháng rất xa xưa, không phải mọi con đường tình yêu đều bị chắn lối. Nếu những cặp đôi đã hẹn hò nhau, đã có một tình yêu đủ lớn thì họ sẽ được ban cho một ân huệ thông thoáng đến bất ngờ. Đó là sẽ thành vợ chồng mà không cần đám cưới, chỉ cần một cái lễ đơn sơ, gọi là lễ thú phạt!

Tôi cũng đã không ít lần được dự cái lễ hơi bi hài này. Đó thường là khi một đám cưới do mai mối sắp tiến hành, có khi ngay trước đêm tân hôn, cô dâu, do đã nặng lòng với một chàng trai khác, đã tìm cách bỏ trốn đến một nơi bí mật nào đó với người mình yêu. Vậy là cuộc hôn nhân sắp đặt kia tan vỡ. Tất nhiên nhà gái phải "đền bù" cho nhà trai, phải chịu nhiều điều tiếng, nhưng rồi mọi chuyện cũng qua... Sau đó thường thì cái cặp đôi đã dắt nhau đi kia sẽ âm thầm về nhà chàng trai, đánh tiếng và khi được đồng ý (cho có lệ chứ gần như chắc chắn), nhà trai sẽ đem "lễ vật" tối thiểu là 1 cặp vịt sang nhà gái, một bữa rượu đơn sơ sẽ được tổ chức giới thiệu họ hàng ruột thịt, và nhận sui gia. Đó là lễ "thú phạt". Có lẽ các vị hồi xưa ghép từ "thú" là đàn ông lấy vợ với chữ "phạt" của hình phạt, nghĩa là phạt vì đã... lấy vợ... trái phép! Vậy là xong. Họ chính thức trở thành vợ chồng, tuy cô gái có phần thiệt thòi vì không có đám cưới, rước dâu... nhưng bù lại họ sẽ được chung sống cùng nhau suốt đời thay vì phải cam chịu với một người xa lạ!

Tình yêu hay bất cứ mong ước tốt đẹp nào dù có khi rất nhiều rào cản nhưng vẫn còn có lối thoát, nếu chúng ta có đủ lòng niềm in và dũng cảm! Cũng vì vậy, tôi vẫn phục người miền Tây nam bộ nghĩ ra cái lễ "thú phạt", đó chính là một con đường hẹp nhưng dẫn đến hạnh phúc và chỉ giành cho những tình yêu thực sự!

(Tạp bút Đàn ông, đàn bà, mọi thứ...)

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

Đừng nhảy xuống dòng sông!



Một đêm mùa hè cách đây 2 năm, ở nhà một mình, tâm trạng rối bời, không ngủ được tôi lang thang khắp Sài Gòn. Gần mười hai giờ đêm, tôi chạy xe lên cầu Thủ Thiêm, hai bên thành cầu vẫn còn khá nhiều những cặp đôi tình tứ bên nhau. Thấy mấy chàng trai đang buông câu, tôi ghé lại gần, rồi tựa vào thành cầu, nhìn xuống dòng sông, đốt thuốc. Phía dưới, chắc cũng chừng vài chục mét, nước đang trôi bình lặng? Thực ra sông Sài Gòn hiền lành nhưng dưới những trụ cầu bao nhiêu là nước xoáy, trong giây phút ấy chợt nghĩ, nếu mình nhảy xuống đó, điều gì sẽ xảy ra? Đớn đau hay êm ái?

Tôi cứ đứng tựa thành cầu như vậy, nghĩ ngợi nhiều điều. Ở bất kỳ một nền văn hóa nào, một quốc gia nào trên thế giới, dù văn minh hay kém phát triển, chuyện tự tử vẫn xảy ra. Người ta chọn tự tử bằng nhiều cách, từ ghê rợn như tự thiêu, mổ bụng đến dịu êm như uống thuốc ngủ, còn nhảy sông có lẽ là cách tự tử… dung hòa, dễ chọn lựa, không quá êm mà cũng không quá đau (?), nên những người sống ở Sài Gòn và quanh lưu vực dòng sông hiền hòa này, thường “ký gửi” đời mình xuống đó khi tuyệt vọng!?

“Chú, chú ơi!” Một tiếng kêu, một cái quờ tay đụng vào vạt sau của áo làm tôi giựt mình, tôi ngoái đầu nhìn lại. Anh chàng câu cá khuya nhìn tôi cười nhăn nhở: “Chú đừng có… nhảy xuống đó nghen, mất công con lắm!”. Tôi nhìn anh chàng vừa nói. Tuổi chừng ngoài 20, ăn mặc ngô ngố, một chiếc xe tay ga dựng gần bên, có vẻ là tay câu tài tử. Tôi cười: “Chú đâu có khùng, mà sao cháu sợ chú nhảy xuống sông?” “Thì cháu gặp mấy lần rồi, mới cách đây vài tuần, có cô gái kia dựng xe ở đây rồi…ùm, chụp không kịp, nước ở dưới xoáy lắm, nhảy xuống là tiêu!” “Nhưng chú đâu có vẻ gì là người chán sống đâu?” “Không chừng chú ơi, có người còn… hát nữa rồi mới nhảy!”



Nhảy xuống sông Sài Gòn này? Thì đã có rất nhiều người làm như vậy. Như hôm nay, hai vụ tự tử mới nhất bằng cách nhảy từ cầu Sài Gòn chỉ cách nhau khoảng 12 tiếng đồng hồ. Cả hai đều là phụ nữ trẻ, và may thay đều được cứu sống (một chuyện cực kỳ hy hữu). Họ đang nằm trong bệnh viện nên nguyên nhân họ chọn cái chết vẫn chưa được sáng tỏ. Có rất nhiều vụ nhảy sông Sài Gòn không kể hết, và những người đó đều đứng trên một trong những chiếc cầu như Bình Triệu, Sài Gòn,  Bình Lợi, Thủ Thiêm… Phần lớn họ là phụ nữ trẻ nhưng cũng có vài người đàn ông, vì sao họ chọn cái chết? Thất tình, mất việc, bệnh hiểm nghèo, vợ chồng xích mích…., nói chung có đủ lý do và chắc rằng trong lúc gieo mình xuống sông họ hoàn toàn tuyệt vọng.

Không ai biết sau cái chết những người đó sẽ đối mặt với an bình hay hỏa ngục, nhưng điều hiển nhiên là họ đã để lại cho những người thân của mình, những người đang sống rất nhiều khổ đau, mất mát, thậm chí dằn vặt, hối hận… suốt cả một thời gian dài, có khi cả một kiếp người.

Tôi thương xót nhưng không đồng tình với những người tự tử. Tôi yêu quí nhất là người quí trọng cuộc sống rất hiếm hoi này. Tôi cảm phục thi sĩ Tô Thùy Yên, người có những vần thơ trong xanh khi chân mang nặng gông cùm, tôi quí mến anh Trần Huỳnh Duy Thức khi giữa trại giam viết những dòng thư cho con đầy hy vọng và không một lời oán trách cuộc sống cũng như tôi yêu thương những đứa bé bị xương thủy tinh, bị những bệnh ngặt nghèo, những người có cuộc sống cùng cực vẫn dũng cảm sống khi còn được sống. Dòng sông Sài Gòn thật hiền hòa, xin đừng biến nó thành dòng sông chết chóc, và xin đừng nhảy xuống bất cứ dòng sông nào để kết liễu sinh mạng của mình dù bất cứ lý do gì!  

Trong các tôn giáo thì Phật giáo nghiêm cấm tự tử vì nó phạm vào tội sát sanh, và nghiêm trọng hơn là sát nhân. Tự mình giết mình theo quan điểm đạo Phật là sát nhân. Sau này người ta vinh danh chuyện “tử (tự sát) vì đạo” như các vị tự thiêu, nhưng đọc lịch sử Phật giáo thấy thời đức Thích Ca không nói đến chuyện này. Cũng là một kiếp người tôi hiểu chúng ta thường xuyên phải đối mặt với những trạng thái tâm thần bế tắc, nhưng cá nhân tôi không đồng tình chuyện tự tử dù bất kỳ hình thức nào. Tôi tin ở lẽ vô thường, niềm vui hay khổ đau đến mấy rồi cũng qua đi, và vì vậy trong trái tim tôi không có từ tuyệt vọng!

(Trong Tạp bút “Đàn ông, đàn bà, mọi thứ…)

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

HOA CÔNG CHÚA



Từ nhà trọ đến trường, anh phải đi bộ chừng năm trăm mét. Đây là năm đầu anh đi dạy khi được bổ nhiệm về một trường trung học tại một xã cách xa thành phố. Một buổi sáng, khi đã bắt đầu đi dạy khoảng ba tuần, anh phát hiện nơi giữa chặn đường ngang qua căn nhà rộng trồng cây ăn trái, thơm ngát một mùi hương lạ.

Chắc là hương thiên lý. Đầu tiên anh nghĩ vậy nhưng khi để ý anh chỉ thấy một giàn hoa giấy trước sân, đang nở những chùm đỏ rực. Mà hoa giấy làm gì có hương? Từ hôm đó, anh thường đi chậm khi ngang khu vườn đó, nó được ngăn cách với con lộ bằng một hàng rào bông bụp thấp, cắt tỉa gọn gàng. Xung quanh khoảng sân rộng lót gạch tàu rợp mát bóng cây. Nhưng bưởi, cam đã cuối mùa, không thấy ra hoa, cái mùi hương này lại rất dịu dàng và lạ lùng, nhìn khắp vẫn không biết từ đâu… Một buổi xế chiều về sớm vì không có giờ dạy, anh nhìn thấy bên hông nhà có một cô gái trẻ, ngồi sau chiếc máy may với mái tóc dài mượt mà. Cái mùi hương đó vẫn phảng phất dịu dàng, cô gái bất chợt nhìn lên, thấy anh cô vội quay đi như mắc cỡ…

Anh chủ nhiệm lớp 7, học trò miền quê hiền lành, lễ phép… những tiện nghi công nghệ chưa bùng nổ, không thấy em nào xài điện thoại di động dù ngoài giờ học…  nơi anh ở trọ là căn phòng nhỏ của một đồng nghiệp trong khi chờ nhà trường sắp xếp nơi ở cho giáo viên từ xa đến… Một hôm có cô gái trẻ đến tìm anh tại trường buổi sáng. Vừa thấy mặt cô anh giật mình, đó là người con gái tóc dài ngồi sau chiếc máy may của khu vườn ngát hương.

Cô gái hơi ngượng ngùng: “Em đến xin phép thầy cho Minh Thu nghỉ học một bữa, nó bị sốt nặng”.- Minh Thu là học trò anh, cô bé rất ngoan, chăm chỉ… “Em là chị hai của Minh Thu”. Rồi cô ra về, anh nhìn theo cái dáng thanh mảnh dịu dàng với mái tóc dài được buộc bằng một sợi dây đỏ cho đến khi cô khuất sau cổng trường, thì ra cô gái đó là chị của học trò anh. Khi Minh Thu đi học lại, anh hỏi: “Nhà em có hoa gì mà thơm vậy?” “Ở đâu, thầy?” “Trước sân, thầy đi ngang qua đó nghe thơm lắm” “À, em biết rồi, cây công chúa đó thầy, sát hàng rào” “Công chúa?” “Hihi, dạ”.

Từ ngày đó mỗi lần đi ngang hàng rào nhà Minh Thu anh lại nhìn vào vì biết mùi hương đến từ đâu. Đó là một cây thân gỗ, khá cao, vỏ cây màu xám trắng, nhánh ngang um tùm với những chiếc lá dài màu xanh sáng. Những chùm hoa quăn queo, màu vàng ánh lục trông không đẹp nhưng từ đó tỏa ra một mùi hương dịu dàng, lạ lùng, bổi hổi. Cô gái tóc dài, chị của học trò anh giờ cũng thường ra ngồi may bên hông nhà, rất nhiều khi ngước nhìn lên thấy ông thầy trẻ đi ngang, cô đã gật đầu chào, mắt như cười, má như hồng mắc cỡ…

Tết đến, nhà trường được nghỉ dài ngày, anh quay về thành phố nhỏ của mình mang theo một mùi hương. Giờ thì anh đã biết Hoa công chúa có danh pháp là ylang- ylang, một loại cây thuộc chi Cananga, người Bắc gọi là Hoàng lan và rất hiếm thấy ai trồng ở miệt vườn miền Tây nên chính anh cũng không biết trước khi tra cứu. Sau kỳ nghỉ, anh trở lại trước một ngày. Buổi chiều dù trường chưa mở cửa, anh vẫn muốn đi ngang khu vườn đó. Con đường nhỏ dọc bờ sông sau tết vẫn còn rất nhiều cúc vạn thọ nở trên những luống đất màu mỡ. Gần đến nhà Minh Thu anh bỗng khựng lại, chiếc cổng gỗ sơ sài hôm nào bây giờ đang kết hoa giấy và trang trí cổng vòm bằng những buồng đủng đỉnh. Khi anh đi đến gần, anh nhìn thấy một tấm bảng đề hai chữ “Vu Qui” treo phía trên. Lướt qua chiếc cổng anh cố nhìn vào trong, có vẻ đám cưới đã diễn ra, nhiều thanh niên đang dọn dẹp bàn ghế, dụng cụ và chuẩn bị tháo rạp cưới bằng vải bạt… Sát bên hàng rào, cây công chúa đã bị chặt bỏ, cành lá được xếp gọn một góc, có lẽ nó bị đốn vì người ta cần một khoảng trống che rạp cưới…

“Hôm qua thầy nhìn thấy nhà em che rạp, đám cưới ai vậy Minh Thu?” “Chị hai em đó thầy, tại nghỉ Tết chứ hông ba em mời thầy rồi” “Sao mới ra giêng mà chị em lấy chồng sớm vậy?” “Dạ, tại chồng chị hai cần về bên đó, ổng người Hàn Quốc”…

Cuối buổi, cô học trò nhỏ để một cái gói giấy trên bàn của anh. Anh mở ra, nhìn thấy những chiếc hạt màu đen như hạt mãng cầu, một dòng chữ học trò nắn nót: “Hạt của cây công chúa, em tặng thầy”.

(Trong tập Tạp bút Đàn ông, đàn bà, mọi thứ...)


Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Tình dục với robot, những ảo vọng nhân gian!



Các nhà khoa học cho rằng trong một ngày không xa, con người có thể gọi hoặc email đến siêu thị để đặt hàng với mẫu câu đại loại như (nếu là đàn ông): “Tôi cần mẫu “nữ hoàng nội y”, hoặc (nếu là đàn bà): “Mẫu cổ điển Clark Gable còn không, nhà tôi ở số xyz, hãy bảo ông ta đến”.

Hiện nay những con búp bê dạng người, có thể quan hệ tình dục với người đã bước qua thế hệ “Real Dolls”, tức là những loại búp bê mỹ nữ chân dài chỉ có những hoạt động hạn chế mà đã chuyển sang “sexbot” (kết hợp hai  từ sex và robot). Đây cũng mới chỉ là những con robot thế hệ đầu tiên, được chương trình hóa theo những “kinh nghiệm ái ân” của nhân loại từ cổ xưa đến giờ, mục đích chính là nhằm thỏa mãn tình dục cho những người cô đơn hay thích những cảm giác mới lạ. Nhưng chính công ty Real Dolls của Mỹ đã nghiên cứu từ sextoy thành sexbot, tuyên bố họ sẽ càng ngày càng cho nó giống người nhất, không chỉ chuyện trên giường mà còn biết trò chuyện, bộc lộ cảm xúc. Hiện những phát minh này vẫn còn “thô” nhưng với tốc độ phát triển khoa học ngày nay, một giáo sư người Mỹ là David Levy, thuộc Trường Đại học Maastricht cho rằng “khoảng năm 2050, tiểu bang Massachusetts sẽ có những điều luật để hợp pháp hoá những cuộc hôn nhân giữa người với robot”.

Sau sexbots sẽ là gì? Đó có thể là những “con người giả” nhưng hoàn toàn như thật? Họ sẽ có những hành vi như chúng ta, thậm chí biết thở và bài tiết… hương thơm da thịt. Và lúc đó nếu chúng ta vẫn còn hoài nhớ về một mối tình đầu lãng mạn mà bất thành, với kỹ thuật chế tạo máy bằng in 3D, bất kỳ ai cũng có thể đặt hàng để sở hữu một người tình trong mộng với cả "nét" và cả "hương" xưa?!

Nhưng sự thật có phải “hoàn hảo” như vậy? Và hệ lụy của nó là sẽ ra sao? Liệu khi đó những giá trị hôn nhân của con người sẽ bị phá hũy khi mà vợ chồng cùng trên giường nhưng mỗi người lại đang khao khát sexbot của riêng mình bởi kỹ thuật làm tình hẳn nhiên con người không thể so bì với máy? Và như vậy những thiên thần của nhân loại, tức bọn trẻ con sẽ chẳng có cơ hội ra đời?

Không cần bi quan lắm. Triết gia, nhà văn, nhà tư tưởng Nietzche từng nói: “Trong một tình yêu đích thực, chính tâm hồn bao bọc lấy thân thể”. Dù ngày nay nhân loại đã có những quan điểm về tình yêu, tình dục khác đi, nhưng nếu không có tình yêu, thì một cơ thể được tạo tác hoàn mỹ đến đâu mà không có tâm hồn để bao bọc và tỏa sáng nó, tình dục đơn thuần chỉ là những ảo vọng của nhân gian. Tình yêu có thể xem tình dục là khởi điểm, nhưng chỉ tình yêu mới là kết tinh, thăng hoa tình dục. Những hồi ức về tình yêu, tình dục là những khoảnh khắc hạnh phúc của con người, và nếu hồi ức đó là với một con robot đã được lập trình, hẳn nó chẳng mang một chút lãng mạn nào, bởi dư vị của nó làm gì có phản bội, đắng cay, tuyệt vọng, hờn tủi, hận thù… những cung bậc dù trong tâm thức nhân loại là “khổ” nhưng là một phần không thể thiếu của một tình yêu đích thực!

Và bởi vậy, chắc chắn khi nào hành tinh này chưa bị hũy diệt từ chính sự điên rồ của con người bằng vũ khí hạt nhân hay phá hoại môi trường, hoặc những vũ khí khủng khiếp của tương lai, thì đàn ông, đàn bà của thế gian vẫn cứ tìm nhau, hút vào nhau dù sau đó có đánh mắng hay hận thù nhau!

(Trích trong tạp bút “Đàn ông, đàn bà, mọi thứ…)



Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Nhớ những chuyến tàu đò trên Xáng Xà No




Giờ thỉnh thoảng một năm vài lần tôi vẫn về miệt Hậu Giang bởi đó là quê ngoại của các con tôi. Nhà ngoại các cháu nằm ven bờ dòng Xà No, sát một cầu tàu thị trấn. Giờ đây, miệt vườn thuộc trung tâm đồng bằng này giao thông đã thông suốt, những con đường cho xe hơi đã được xây dựng khá nhiều nên các cầu tàu gần như không còn hoạt động nhưng hơn vài mươi năm về trước, và xa hơn là những năm sau biến cố 1975, các cầu tàu ở các vùng quê miền Tây khá là nhộn nhịp bởi do địa hình sông rạch, việc đi lại chủ yếu phải dùng tàu đò (chạy bằng máy) và ghe, xuồng…

Kinh Xáng Xà No được người Pháp đào từ năm 1903 với chiều dài 34 km nhằm khai thác vùng đất hoang hóa miền Hậu Giang thuở đó. Theo tài liệu ghi lại, con kinh này lớn nhất đồng bằng tây Nam bộ thời đó, nối liền sông Hậu (từ Vàm Xáng rạch Cần Thơ) đến sông Cái Lớn (ngọn rạch Cái Tư), có bề ngang rộng 60m, đáy 40m, độ sâu từ 2,5-9m. Sau đó, người Pháp còn tiếp tục cho đào những con kinh sườn, cứ cách 500m thì đào một kinh nhỏ, 1.000m đào một kinh lớn và đào theo lối “xôm lươn” (nằm lệch nhau), tạo ra những vùng đất trồng lúa mênh mang… Đây là vùng đất ngày xưa thuộc người Thủy Chân Lạp, những “sóc Miên”, tức những xóm của người Khơ me vẫn còn đó, và cái tên Xà No được biết là bắt nguồn từ xóm Xà No (srok Snor:­ xóm có nhiều cây điên điển- tiếng Khơ me) mà con kinh đi qua.

  

Tôi từng sống cả một thời mới lớn và thanh niên nơi đây, tại một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Hậu Giang bây giờ. Ký ức của tôi về những chuyến tàu đò này là những đêm thức suốt chờ đến giờ tàu chạy bởi các con tàu đầu tiên xuất bến đi thành phố Cần Thơ là 1g sáng và sẽ đến bến tàu Ninh Kiều từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ sau, kịp trước bình minh. Hồi đó, những năm đầu 80 của thế kỷ trước, thị trấn Bảy Ngàn, nơi tôi ở chưa có điện, phải thắp đèn bằng bình accu. Có khi chẳng đi đâu, chúng tôi vẫn tụ tập nhau ca hát gần bến tàu. Và khi những chiếc tàu đò hú còi báo hiệu rằng nó đã vào bến đợi, là chúng tôi biết đã chuyển sang một ngày mới, dù vậy rượu trắng vẫn cứ rót tràn, tiếng đàn vẫn cứ bập bùng… một thời thanh niên bế tắc, u uẩn rồi cũng qua…

Thị trấn u buồn đó cũng là nơi tôi nếm trải những trái đắng đầu đời về một mối tình bất thành. Có những đêm nằm thức suốt nghe tiếng tàu đò hú dài buồn bã, nghe như có tiếng khóc tấm tức của một người con gái từng yêu thương nhau điên dại, tôi ra khỏi nhà, lang thang về phía bến tàu nhìn hành khách ngủ gà ngủ gật dựa vào hai bên thành tàu chờ đò chuyển bến. Sát bến tàu, có một quán cà phê nhỏ chỉ bắt đầu mở cửa từ sau 12g đêm, những người đàn ông mất ngủ thường ra đó, uống một ly “xây chừng” và vấn thuốc rê rầm rì nói chuyện…

Những chiếc tàu đò đóng bằng gỗ, có hai hàng ghế chạy dài theo thân tàu, thường đặt máy bên trong, phía cuối thân tàu, còn người lái ngồi ở chiêc ghế đầu tiên sát mũi để dễ quan sát. Thường thì hành khách xuống trước sẽ giành chỗ ngồi gần mũi tàu, vì như vậy sẽ bớt nghe tiếng ồn và khói, ai ra trễ, tất nhiên ngồi tận đằng sau...

Tàu chạy rất chậm, hết ghé bên này lại ghé bên kia đón khách nên từ nơi tôi ở, ra khỏi Vàm Xáng, tới Ba Láng là đã thấy những dãi mây hồng ánh lên từ hướng đông, tới Cái Răng đôi khi đã nhìn thấy mặt trời ló dần lên như một cái lòng đỏ trứng... Thủy trình tàu chạy là dọc theo câu hò "Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền... Anh thương em thì cho bạc cho tiền, đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê..."  nhưng nếu về bến Cần Thơ, thì không đi ngang qua chợ Phong Điền...

Mùa hè này tôi lỡ hẹn, ôi nhớ Cần Thơ- Hậu Giang xiết bao!


Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

Gustave Courbet – nghệ thuật không ngụy tạo!



“Tôi chưa từng nhìn thấy một thiên thần, và tôi không thể vẽ điều không thấy”. Sinh thời họa sĩ Gustave Courbet từng thốt lên như vậy, khi người ta lên án bức “Cội nguồn trần thế” (L’origine du monde) của ông là “điếm nhục” và đủ mọi ngôn từ mô tả sự đồi trụy khác. Điều này cũng dễ hiểu, bởi ông vẽ bức tranh này vào năm 1866 và hơn một thế kỷ sau, vào năm 1995, nó mới được chính thức trưng bày tại Viện Bảo tàng Orsay (Pháp), và ngay cả ngày nay, khi đối diện với nó, không ít người còn đỏ mặt vì tính hiện thực cao độ, trần trụi.

Sinh năm 1819, Gustave Courbet mang tính chất ngang tàng của một nghệ sĩ, ông là con trai duy nhất của một điền chủ thuộc làng Ornans (tỉnh Doubs, vùng Franche-Comté, miền Ðông nước Pháp), trong một gia đình có 3 cô con gái là chị của ông. Bỏ học luật, tự học vẽ, và ngay từ đầu đã tự tìm kiếm con đường sáng tạo của mình, ông tuyên bố khước từ chủ nghĩa lãng mạn và sẽ vẽ “như thật”.

Suốt cuộc đời càng về cuối càng gặp nhiều tai họa vì vẽ tranh, Gustave Courbet vẫn sáng tác và để lại khoảng 600 bức tranh nhưng không bức nào nổi tiếng, có số phận ly kỳ như “Cội nguồn trần thế”. Bức tranh này ông vẽ từ đơn đặt hàng của một nhà ngoại giao sưu tập tranh người Thổ Nhĩ Kỳ, chủ đề bộ phận sinh dục phụ nữ. Bức tranh cực kỳ sống động và nó gần như “biến mất” sau khi hoàn thành nhưng vẫn là chủ đề để họa sĩ bị lên án, bị cầm tù và phải sống lưu vong và chết trong đói nghèo, bệnh tật.

Được trưng bày công khai tại bảo tàng từ năm 1995, “Cội nguồn trần thế” quả thực rất khiêu khích, gợi dục dưới một ánh nhìn trần tục. Nó mô tả chủ yếu là bộ phận sinh dục nữ với một bố cục đặc biệt, bằng thủ pháp cận ảnh, khiến bức họa như một thỏi nam châm hai cực, một là nó thu hút người xem, không thể nào mà không dán mắt vào bức vẽ, hai là nó đẩy lùi ngay tức khắc những người nào tình cờ bắt gặp bức họa. Phần trên bức họa mô tả hai bầu vú mà núm vú đang cương cứng, như thể nhân vật đang trong trạng thái cực khoái. Nó thực như chính sự thực, và nó bị những đầu óc ngụy quân tử cho là thô tục, cần che giấu.

Tất nhiên trong thời kỳ mà họa sĩ Gustave Courbet đang sống, điều này quả là quá khủng khiếp với hầu như tất cả mọi người, thậm chí các tờ báo còn cho rằng ông đã sỉ nhục phụ nữ, mô tả họ trần trụi như một thứ đồ chơi quái gở, và do đó bức tranh không còn là một biểu tượng của nghệ thuật mà chỉ là một mô tả mang tính khiêu dâm!

Ngày nay “Cội nguồn trần thế” được xem là một trong những tác phẩm hội họa của thế kỷ XIX nổi tiếng nhất, và bất kỳ ai đến Paris cũng có thể thưởng lãm nó, nhưng vẫn không ít người cho rằng đó là một bức vẽ sống sượng, quá khiêu dâm dù phần lớn đều công nhận: Gustave Courbet, đại danh họa, người nghệ sĩ thứ thiệt, vượt qua thời đại mình đang sống, can đảm phơi bày tất cả những gì thực nhất, đẹp nhất, không ngụy tạo!

DIÊN VỸ

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Chưa xa mà… đã xưa!

Tùy bút

1. Bây giờ về miền Tây xe đò chạy suốt một lèo, có dừng cũng là nghỉ ở những trạm để hành khách ăn uống và đi vệ sinh. Sông Tiền rồi sông Hậu mênh mông đã có những cây cầu dây văng rất đẹp bắc qua, tiện lợi và nhanh hơn nhiều, nhưng ai đã từng đi tuyến đường này trước tháng 4/2010 thì ít nhất cũng được nếm mùi “tới bắc Cần Thơ rồi, bà con xuống xe đi bộ qua phà”. Còn nếu đi trước tháng 5/2000 thì bạn là người may mắn, bởi ít nhất một lần trong đời được hưởng niềm vui ngồi trên phà băng qua cả hai nhánh sông lớn nhất Nam Bộ: sông Tiền và sông Hậu.

Nói đúng ra, những năm hai cây cầu lớn chưa xây xong, đi về miền Tây, hoặc từ phía dưới Cần Thơ lên Sài Gòn, nhất là những ngày Tết thiệt quá đổi nhiêu khê dù đường Sài Gòn- Cần Thơ dài không hơn 170km vì phải qua hai bến bắc. Xe kẹt chờ phà có thể kéo dài mấy cây số và thời gian chờ có thể vài tiếng hoặc lâu hơn để vượt qua một con sông. Khi bị kẹt phà tất nhiên mất thời gian, bực bội nhưng giờ đây khi mà xe chạy cái vèo qua cầu, chỉ mấy phút là đã vượt sông Tiền sông Hậu, hẳn sẽ không ít người bồi hồi nhớ cái thuở xuống xe đi bộ qua bến bắc thuở nào. So sánh hai cái bắc thì bắc Mỹ Thuận vui hơn, bởi cả hai bờ đều… kẹt xe và tấp nập và thường thì bắc Cần Thơ bên bờ thành phố Cần Thơ ít kẹt xe, người buôn bán cũng ít. Khi xe chờ phà quá đông, trên xe chỉ còn tài xế và người già yếu bệnh tật ngồi lại, còn hành khách cầm vé qua phà do tài xế mua và tự do đi lại, ghé hàng ghé quán, mua bán ăn uống vệ sinh thoải mái nhưng mắt thì liếc canh chừng chiếc xe mình đi, để khi nó vừa qua phà, đến điểm đợi khách thì lên xe tiếp tục hành trình. Tại bắc Mỹ Thuận đầu nào cũng là một cái chợ tả bí lù kéo dài vài cây số, bán đủ thứ đặc sản địa phương và phục vụ mọi nhu cầu của hành khách nhưng nổi tiếng nhất là nem Lai Vung,  bánh phồng sữa, các loại chim quay và cây trái. Tất cả đều tính bằng chục 14, nghĩa là mua một chục sẽ được 14 cái. Nếu từ Sài Gòn về miền Tây, những năm đó quốc lộ 1 chật chội, xe chạy chậm nên thường trưa mới đến bắc Mỹ Thuận, khi đó bụng đã đói mà bên đường mùi thịt nướng, mùi cơm, mùi xôi, mùi chim quay… bay lên thì thiệt là chịu hổng nổi, giá cả thì tương đối rẻ nên chẳng mấy ai có thể bấm bụng làm ngơ. Tất nhiên không phải mọi cái đều thi vị dễ thương, cũng có cảnh đánh chửi nhau, lừa khách mua chim quay… thúi hay trái cây sâu, rồi cảnh móc túi khi chen lấn xuống phà, nài nĩ mua vé số… nhưng thời gian trôi qua, cái khó chịu hình như đã mất, chỉ còn đó là một chút ngậm ngùi hoài nhớ mỗi khi ngồi xe vượt nhanh qua sông Tiền, sông Hậu…

Nói vậy chớ kể từ ngày cái phà đầu tiên người Pháp làm ra để vượt sông Hậu vào năm 1914, đã đúng 100 năm trôi qua, sự đổi thay để tiện lợi hơn là tất yếu, thật ra là khá muộn. Có lẽ trong một thời gian không lâu nữa thôi, tất cả những chiếc phà qua sông rồi sẽ thay thế bằng những cây cầu. Và như vậy cái chữ “bắc” phiên âm từ tiếng Pháp là “bac”, có nghĩa là đò ngang rồi cũng sẽ bị lãng quên như qui luật cuộc sống đổi dời. Giờ ai có nhớ bến bắc hay muốn biết mùi bắc, có đi Long Xuyên thì đi theo quốc lộ 80 qua bắc Vàm Cống trên sông Hậu, một trong những bến bắc nổi tiếng miền Tây còn tồn tại, mà cũng nhanh lên, chứ không vài năm nữa cầu Vàm Cống rồi cũng xây xong!


2. Hồi xưa, ở miền Tây có câu đố nhau như vầy: Đố chớ bốn con gì nặng một cân? Và trả lời con… ba khía! Vì sao là con ba khía? Thiệt đơn giản, cách đây chừng 30 năm về trước, ở miền Tây người dân vẫn xài cân đòn, loại xách tay, trên đòn cân có những cái “khía” đánh dấu 50g. Con…3 khía tức nặng 150g, bốn con nặng 600g, mà hồi xưa, người miền Tây nói1 cân là 600g, 1 ký là 1kg!

Thời gian trôi qua, cái gọi là “giao thoa văn hóa” các vùng miền và những thay đổi để thích nghi với cuộc sống đầy biến động đã làm mất đi nhiều nét riêng đặc sắc tại vùng đất này. Món mắm ba khía vẫn còn nhưng cái cân xách tay đã gần như biến mất, cũng không còn ai nói 1 cân là 600g nữa nên câu đố xưa đã trở thành… bí hiểm. Cùng chung số phận với cái cân đòn, một số vật dụng cũng chỉ còn trong ký ức. Nếu về miệt vườn chơi, có thể bạn sẽ bắt gặp những cái cối đá, cối xay, những cái kiệu lớn đựng nước mưa nằm đâu đó ngoài vườn. Trong đo lường, thì hai đơn vị dùng đong lúa là giạ và táo cũng một đi không trở lại và có thể thế hệ sinh sau năm 2000 không biết cái táo để đong lúa nó hình thù ra sao trong khi trước đây, người miền Tây định lượng lúa thu được hay bán đi bằng giạ, một giạ bằng 2 táo và một táo tương đương 20 lít.

3. Từ hồi lên sống ở Sài Gòn, thỉnh thoảng tôi cũng về miền Tây ăn Tết. Nhưng giờ đây Tết ở miệt này cũng đã khác xưa, nhất là không thể tìm đâu tiếng thậm thịch của chày quết bánh phồng vang động trong khắp xóm làng. Đây là loại bánh đặc trưng của miền Tây nam bộ, bánh được làm từ nếp dẽo nấu chín bỏ vào cối đá, giã và quết cho thật nhuyễn, chung với nước cốt dừa, rồi ngắt từng viên cỡ nắm tay dùng ống tre cán mỏng ra thành hình tròn, đường kính cỡ 20cm, dày độ một ly. Kêu là bánh phồng, vì khi để trên lửa nướng nó phồng lên cả chiều dày lẫn vòng tròn và có mùi thơm, ngọt, béo… rất hấp dẫn, nhất là với trẻ con. Và một phong tục khác ở miền Tây, mà ở các vùng khác không thấy, giờ đã mất, đó là chiều ba mươi Tết, người ta bơi ghe hoặc xuồng ra giữa sông, để múc được dòng nước sạch nhất đổ đầy vào những lu, khạp đựng nước, coi như một cầu mong năm mới thật đủ đầy, viên mãn….

Thời gian chưa mấy xa mà đã xưa! Cuộc sống đổi dời, sông núi còn thay đổi huống hồ cảnh vật và vật dụng. Vì vậy ký ức rất cần ghi lại dù không biết nó ích lợi hay là để cho ta những dư vị ngậm ngùi? Thực ra những chuyến phà vẫn còn nhiều trên mọi miền đất nước. Ở Sài Gòn bạn có thể chạy xe ra Cần Giờ nghỉ mát để qua phà Bình Khánh, miền Tây thì còn bắc Vàm Cống, phà Hồng Ngự, Tân Châu…, cũng xe cộ, cũng bán buôn như những chuyến phà Mỹ Thuận- Cần Thơ xưa. Món bánh phồng giờ chỉ có thể mua ở những cửa hàng đặc sản, mà chỉ có bánh phồng sữa, ăn liền, không cần nướng nên chẳng gợi dư vị xưa. Cũng vậy, cái món ba khía thì vẫn còn ở quê và cả ở… Sài Gòn. Lâu lâu bà xã nhớ quê, lại mua  vài ba lạng về trộn chanh, ớt, đường… Cũng mặn mặn, cay cay… cũng cái hương ba khía cực kỳ đặc trưng Tây nam bộ, nhất là khi xế trưa đói bụng, xúc vài muỗng cơm nguội, nhấm nháp vài cái càng ba khía. Dù vậy cái cảm giác ngon lạ lùng là không thể tìm lại được, nó chỉ có ở cái thời ngồi giữa vườn dừa xào xạc dưới những mái lá đơn sơ ăn cơm nguội với mắm kho hay mút vài cái chân con ba khía.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...