Blog Nguyễn Đình Bổn

CÂU NÓI

Khi nhân dân ngẩng đầu đi tới lao tù, là giờ phút tự do đã điểm!

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017



Người Việt tôn sùng thơ, ca tụng thơ như một cứu tinh khi gặp bất cứ chuyện vui buồn nào. Nhà thơ làm thơ đã là đương nhiên, các chính trị gia, nhà buôn, tướng tá và cả trẻ chăn trâu cũng làm thơ.
Câu thơ của Phùng Quán “Tôi vịn câu thơ và đứng dậy” có thể là một ví dụ cho kim chỉ nam của nhiều người Việt, cho nên nhìn tổng thể, dân tộc này mang nhiều “âm tính”.
Là một người “có làm thơ” tôi nghĩ thơ chỉ nên để bày tỏ cái riêng tư, không nên dùng nó cổ xúy cho việc xây dựng lại đất nước đã hoang tàn này, bởi bằng sự ma mãnh, các nhà làm chính trị đã và đang lợi dụng thơ đó thôi.
Thơ, cũng như suy nghĩ về các chủ đề lớn của dân tộc, đã đến lúc phải thay đổi mạnh mẽ nếu không nói đã là quá muộn.
Tôi thích cách chơi chữ hậu hiện đại trong thơ Bùi Chát, với ví dụ này:

F 1:
"Có những phút ngã lòng.
Tôi vịn câu thơ và đứng dậy”

Phùng Quán
F2:
mỗi lần vấp ngã tao chống cặc gượng dậy
Bùi Chát
Và tôi đề nghị F3:
Nếu bị xô ngã, ta chống cặc đứng dậy!
Không còn tôi, không còn “ngã lòng”, không cần “vịn vào thơ” một cách yếu đuối nữa, TA hãy tự cương cường mà đứng dậy dù bị xô ngã (ví dụ khi đi biểu tình chống Formosa!).
Lưu ý: Cặc ở đây là tiếng chửi thề, bày tỏ một thái độ dứt khoát trước nghịch cảnh chớ hông phải của riêng quý ông, vì vậy quý cô, quý bà mạnh mẽ vẫn có thể... xài được!
Nobel Hòa Bình- Trung Quốc và Đức Quốc xã chia sẻ tương đồng!
Sự việc ông Lưu Hiểu Ba chết làm gợi nhớ đến một trường hợp khác rất giống ông Lưu.
Đó là nhà văn, nhà báo Carl von Ossietzky người Đức, Nobel HB 1935, nhưng bị Adolf Hitler buộc tội "gián điệp" từ năm 1931. Tất nhiên ông không được nhận giải thưởng và chết trong nhà giam năm 1938 vì bệnh lao, trong sự canh phòng nghiêm nhặt của Gestapo (mật vụ Đức).
Có nhiều điểm tương đồng trong 2 trường hợp này:
- Cả 2 ông đều là nhà văn, nhà báo
- Cả 2 đều chết vì bạo bệnh trong thời gian bị giam cầm
- Cả 2 ông đều bị mật vụ canh chừng đến phút cuối đời
- Cả Trung Quốc và Đức khi không cho công dân mình nhận giải đều theo xã hội chủ nghĩa. (Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (tiếng Đức: Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei; viết tắt: NSDAP; gọi tắt: Nazi; gọi tắt trong tiếng Việt: Đảng Quốc xã) là đảng cầm quyền Đức trong thời kỳ Đức Quốc xã).

Chúng ta bị công lí của chính mình đè bẹp!
"Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta không cần hợp tác, chúng ta tùy ý kết bè kéo cánh, chúng ta lập ra các tổ chức, chúng ta cử người lãnh đạo, chúng ta lập các hội công nhân và sinh viên tự quản, chúng ta tuyệt thực, chúng ta tổ chức các nhóm tranh luận, các nhóm trí thức, phóng viên, cảm tử quân, chí nguyện quân và hướng đạo sinh. Không ai chịu nghe ai, chẳng người nào chịu dưới trướng người nào.
Chúng ta làm cách mạng, chúng ta thực hành dân chủ, chúng ta căm thù Đảng Cộng sản tột độ và lên án Đảng bằng những bộ quần áo đẫm máu trên thân thể chúng ta. Chúng ta nghiến răng chửi kẻ khác, chúng ta thỏa sức bôi nhọ, chúng ta cho phép mình nói những điều như: chúng tao sẽ bắn vỡ sọ mày, chúng tao sẽ bỏ mày vào vạc chiên, chúng tao sẽ chôn sống mày. Chúng ta cho phép mình chửi rủa và thậm chí hành hung những kẻ không đi cùng chúng ta. Chúng ta cho phép mình thanh toán ân oán giang hồ cá nhân, nhân danh công lí..."
Lưu Hiểu Ba- Phạm Thị Hoài dịch.
"Tiểu luận sau đây của Lưu Hiểu Ba được in trên tờ Central Daily News ở Đài Loan ngày 5-6-1993, nhân 4 năm Sự kiện Thiên An Môn. Lời phê bình các khuyết điểm của giới trí thức phản kháng Trung Quốc và phong trào sinh viên năm 1989 xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp của ông." (trích từ tranghttp://www.procontra.asia/?p=1512).
Nhận xét của tôi: Là người trong cuộc, Lưu Hiểu Ba đã chỉ chính xác cái khuyết điểm của phong trào đòi dân chủ, nhân quyền TQ, đó cũng là lý do cho đến nay phong trào này chưa thể lớn mạnh.
Còn với chúng ta, không chỉ mô hình nhà nước VN copy của TQ, mà hành xử của nhiều thành viên trong các phong trào dân chủ cũng ... giống luôn! Tôi chỉ mong với VN, nó chỉ là cái "vật chất" đang nổi lên!


Nghệ sĩ hoạt hình Trung Quốc, Tiểu Quái, cũng vẽ dựa trên bức ảnh này với hình ảnh hai ngọn nến biểu tượng cho vợ chồng ông Lưu.


Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc đã mất!
Ông Lưu Hiểu Ba, người Trung Quốc duy nhất từ trước tới nay được trao giải Nobel Hòa bình, vừa qua đời ở tuổi 61 do bị ung thư gan khi đang ở tù.
Cáh đây mấy ngày, ông Joseph Herman thuộc Trung tâm Ung thư M.D. ở Mỹ và ông Markus Buchler thuộc Đại học Heidelberg của Đức cho biết ông Lưu Hiểu Ba và gia đình ông đã đề nghị ông được điều trị ở Đức hoặc Hoa Kỳ và nhận xét rằng tình trạng chưa phải quá muộn nhưng nhà cầm quyền TQ không đồng ý và hôm qua ông hôn mê, gia đình từ chối việc mở khí quản.
"Tôi vẫn luôn mạnh mẽ tin rằng những tiến bộ chính trị của Trung Quốc sẽ không ngừng lại và tôi với niềm lạc quan sâu sắc, mong muốn được thấy một đất nước Trung Quốc tự do trong tương lai"... "Vì không có thế lực nào có thể ngăn chặn được đòi hỏi của con người được có tự do và Trung Quốc cuối cùng sẽ trở thành một quốc gia được điều hành bởi luật pháp, nơi nhân quyền là trên hết."
Ông nói trong một tuyên bố được đưa ra sau phiên tòa xử ông hồi năm 2009.
Lưu Hiểu Ba từng được đề nghị đi tị nạn chính trị tại Úc nhưng ông từ chối. Ông là người hùng của phong trào dân chủ nhưng là kẻ thù, là tội phạm "âm mưu lật đổ chế độ" trong mắt nhà cầm quyền Trung Quốc.
(Nguồn BBC)

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016



Sáng, bật tình cờ một bản nhạc, lại ra bài “Chiều” của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, bỗng nhớ Hồ Dzếnh, tác giả bài thơ được phổ nhạc này
.
Hóa ra không có chuyện gì tình cờ, dù những ý nghĩ, bởi trước đó chừng 30 phút, tôi đọc môt bài phóng sự trên RFA về thân phận xót xa của những phụ nữ miền Tây ly hương tìm đất sống. Với thơ Hồ Dzếnh, từ hồi học tiểu học, tôi đã đọc và không hiểu sao rất thích bài thơ “Cảm xúc” của ông, có thể ông viết về một bóng hồng của mình nhưng ngay từ ngày đó, đã mô tả người phụ nữ Việt với nhiều thua thiệt: “Cô gái Việt Nam ơi! Từ thuở sơ sinh lận đận rồi”…
Hồ Dzếnh, là một nhà thơ khá nổi tiếng trước năm 1945 với tập thơ “Quê ngoại”, và tập truyện ngắn “Chân trời cũ” (đều in năm 1942). Sau 1954, ông sống tại Hà Nội nhưng hoàn toàn “mất dấu” trên văn đàn (ông mất năm 1991). Có thể nói người miền Nam, học sinh miền Nam, biết về tác phẩm của ông nhiều hơn hẳn người miền Bắc, bởi tại miền Nam trước 1975, tập thơ “Quê Ngoại” được NXB Hoa Tiên tái bản tại Sài Gòn, bài thơ “Chiều” được được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc khá nổi tiếng. Bài thơ "Ngập ngừng" cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc như Anh Bằng (Anh cứ hẹn), Hoàng Thanh Tâm (Em cứ hẹn), Minh Duy (Ngập ngừng) hay Trần Thiện Thanh lấy ý thơ này để viết ca khúc Chuyện Hẹn Hò.
Ngoài ra thi sĩ Bùi Giáng cũng nhiều lần viết về ông, ca tụng lục bát của ông còn hay hơn… Nguyễn Du, bởi bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Dzếnh, theo Bùi Giáng trong cuốn Thi ca tư tưởng thì: "Người Việt Nam có thể không đọc Nguyễn Du, nhưng không thể nào không đọc bài thơ kia của Hồ Dzếnh". Hehehe!
Vì sao sau 1954 ông không viết và in thêm? Có lẽ ông đã chọn cho mình thái độ sống lặng lẽ trong một chế độ toàn trị, bởi không muốn a dua cùng thời cuộc. Ông đã đúng, bởi có viết thêm như Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư… thì cũng chỉ là thứ tụng ca minh họa chính trị sống sít, vô hồn, vô giá trị!
Quay trở lại bài thơ tôi yêu từ khi 10 tuổi, tôi xin đăng lại nguyên bài:

Cảm xúc

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi
Tôi biết tình cô u uất lắm
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi
Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
Khi cô vui thú, là khi đã
Bồng bế con thơ, đón tuổi già
Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi
Tôi đến đây tìm lại bóng cô
Trở về đường cũ, hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước
Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ
Dãi lúa cô trồng nay đã tươi
Gió xuân ý nhị vít bông cười...
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
Trong một làng con, đã héo rồi!
Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Hồ Dzếnh
Có lẽ ngay từ bé, tôi đã trân trọng, yêu quí phụ nữ và chọn thái độ bình đẵng giới là từ những bài thơ như thế này.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016



Tôi vừa được một người bạn gợi ý, về một bài đọc trong cuốn “Văn- Sách tự học cho các bạn trên 10 tuổi”, trong đó có một số mục và kể nguyên văn chuyện Tấm Cám theo “Truyện cổ tích Việt Nam”, đoạn cuối vẫn mô tả sự trả thù tàn độc của nhân vật Tấm, khác rất xa với tiêu chí Nhân bản của nhân loại, và tiêu chí: “Học Văn để có sự am tường mỹ học và có năng lực sống trong cái Đẹp nghệ thuật thay cho những bài “văn” và những bài “làm văn” thổ thiển, xơ cứng, khô cằn” mà nhóm Cánh Buồm đề ra.



Như tôi từng viết về đề tài này, theo tôi Tấm không đại diện cho cái đẹp nội tâm, không phải là một nhân cách tốt (để con em chúng ta học theo) khi chỉ biết dựa dẫm thế lực và hẹp hòi khi chiến thắng. Bụt trong Tấm Cám không phải là một ông Phật từ bi, trí tuệ, mà chỉ là một kẻ quyền thế thích ban ơn trước sự cầu xin, không biết ngăn chặn mà ngầm khuyến khích cái ác (của Tấm).

Tôi đề nghị BBT Cánh Buồm nên cẩn trọng với tư tưởng “đấu tranh giai cấp”, thiếu nhân bản… của truyện cổ tích này. Kho tàng Truyện cổ tích VN không thiếu những truyện hay và nhân ái, tại sao BBT lại phải chon một truyện trùng lặp với sách giáo khoa của nhà nước, mà trong giảng dạy, họ thể hiện ý đồ giai cấp rất rõ ràng?
Tôi sẵn sàng tranh luận với quí vị về đề tài này để bộ sách ngày càng tốt hơn.
Nguyễn Đình Bổn

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016



Ảnh do Phillip John Griffiths, chụp năm 1985 tại miền Bắc VN. Nguồn: reds.vn

Tôi nhớ bạn tôi, khi làm giám khảo một chương trình trên TV, khi một thí sinh miền Bắc hát "Mắt lệ cho người" của nhạc sĩ Từ Công Phụng, anh nhận xét đại ý: "Em hát rất chuẩn, nhưng do văn hóa em hấp thu nên không thể diễn tả được cái hồn của bản nhạc".
Vụ nhạc bolero, khi các ông Lê Minh Sơn, Quốc Trung... nặng lời xúc xiểm là "nhạc sến" "quá bình dân" hay "bế tắc, lười biếng chộp giật ..." là chính do cái văn hóa xuất phát của họ. Bởi họ sinh ra ở phía Bắc, từ sơ sinh đến trưởng thành đã mặc định (giáo dục) một xu hướng sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật (từ 1954 về sau), nên khi thấy cái mình sáng tạo bị công chúng chê, bị lấn át với cái mà mình tin là nó xấu, nó sến (mặc định) thì lòng ganh tỵ nổi lên, khi đó họ sẽ tự dành lấy cho mình một chỗ đứng cao hơn (thậm chí họ hoàn toàn tin như vậy) để phán xét cái mà mình không hiểu, không cảm thụ được.
Điều này cũng dễ nhận thấy qua một số tạp bút (in thành sách, bán rất chạy) gần đây của vài cây bút viết về Sài Gòn, khi họ có điểm văn hóa xuất phát từ phía Bắc (chưa bao giờ sống ở miền Nam trước 1975). Các bài viết về SG của họ chỉ chạm được cái bên ngoài bằng việc mô tả, mà chưa bao giờ chạm vào cái hồn cốt SG, bởi họ chưa sống trong nội tâm (không chỉ lòng hào hiệp, tính phóng khoáng mà còn là nỗi đau) của thành phố từng là thủ đô VNCH này.
Chắc sẽ có bạn cho rằng tôi... phân biệt vùng miền, nhưng muốn nói như vậy, trước hết hãy đọc kỹ status. Ở đây không có phân biệt nào, quan điểm của tôi là văn hóa khác biệt, không phải văn hóa cao thấp.

Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016



Ở  Sài Gòn tôi vẫn thường dừng chân bên những chợ nhỏ như chợ Cây Thị, tiếp giáp giữa Gò Vấp và Bình Thạnh để mua những thứ bánh trái dân dã mà tôi và gia đình rất thích. Tôi không sinh ra ở miền Tây nhưng từ tuổi thiếu niên đã sống ở vùng sông nước đó rồi làm rể xứ này, giờ dù về sống tại Sài Gòn nhưng tôi vẫn là “môn đồ” của những món ăn mang hương vị quê mùa, hương vị của một vùng đất với tấm lòng rộng mở.

Tôi nhớ những ngày thuở xưa, khi miền đất tôi sống, một huyện thuộc tỉnh Hậu Giang bây giờ, còn đò giang cách trở, phương tiện đi lại chỉ là những chiếc xuồng hay ghe tam bản, lúc đó những ngày tết Nguyên Đán hay tết Mùng Năm mới vui làm sao. Nhà nhà đãi nếp, xay gạo, gói đủ các loại bánh trái. Bánh tét, bánh lá dừa, bánh ú…, và đặc biệt là bánh ít vì tôi rất thích loại bánh này.

Những ngày mưa nhiều của tết Mùng Năm, khi đó các căn bếp thiệt rộn ràng. Từ sáng, hoặc khi trời hửng nắng, những chàng trai hay người chủ gia đình đã đi lựa để chặt những tàu chuối lớn. Gạo đã xay từ đêm qua hoặc đêm trước nữa, đang trong “bồng”. Bồng là một loại bao làm bằng vải rất dày, khi cho gạo đã xay kỹ vào thì chỉ có nuớc rỉ ra chớ bột thì còn lại. Sau một ngày đêm dằn bột, thường là dưới một vật nặng như nửa trên cái cối xay, cục bột đã ráo nước và khi mở bồng ra, người ta phân làm hai, một nửa đem phơi khô còn phân nửa để nguyên như vậy.

Trong khi đó các dì, các cô rửa lá chuối cho sạch. Từ những tàu lá chuối đã chọn, đợi nắng lên đem ra phơi cho mềm lá sau đó họ rọc ra và xé thành những miếng nhỏ vừa phải rồi cắt tròn góc. Đậu xanh đãi vỏ được bắt lên chảo, nấu cho nhừ rồi nêm nếm vừa ăn sau đó vắt thành những viên nhưn. Nhưn bánh ít còn có dừa làm nguyên liệu. Phải chọn cho được những trái dừa vừa cứng cạy, còn kêu là dừa rám, nạo ra, xào với đường và cũng vắt lại làm nhưn.

Thường thì nhà nào cũng làm cả hai loại bánh ít ngọt nhưn đậu và bánh ít nhưn dừa. Loại bột trắng không phơi để gói bánh dừa ngọt còn bột khô thì nhào với đường thẻ, lá dứa trở thành một khối màu xanh lá nhưng khi hấp lên thì trở thành màu sậm coi rất bắt mắt.

Nhiều gia đình có đông người làm, còn làm bánh ít trần, tức lá bánh ít không gói lá. Bánh ít trần nhưn mặn cũng là món ngon hấp dẫn nhiều người vì vị béo của thịt và vị ngọt đậm đà của tôm, hương nồng nàn của hành lá. Mỗi nhà thường có những cách làm, công thức không hẳn là giống nhau, nhưng khi tôi ghi chép điều này, tôi đã xin được sự “tư vấn” của bà xã mình, một phụ nữ miền Tây chính cống thì cách làm bánh ít trần như sau:

Mua thịt dăm ngon, xay hoặc quyết nhuyễn rồi ướp với tiêu, nước mắm, bột ngọt, và một phần hành lá bằm nhỏ. Tôm thì chọn lại tôm thẻ ngon hay tép bạc, làm thật sạch và cũng bằm nhỏ rồi trộn chung với thịt.

Cho một ít dầu vào chảo, cho hỗn hợp thịt vào xào chín, rồi cho đậu xanh đã tương đối nhừ và ít nước sạch, nấu sôi trộn đều, nêm nếm gia vị gồm có muối, đường, tiêu đã xay cho vừa ăn, sau đó bắt chảo xuống, để nguội rồi vo viên thành những “cục nhưn”.

Sau đó cho nước ấm vào để nhồi bột và cũng vo thành viên bằng nhau, sau đó cán mỏng thành những miếng tròn như cái bánh phồng, đặt cục nhưn vô giữa và khéo léo cuốn lại, tạo hình như ý muốn.

Cả bánh ít gói lá và bánh ít trần đều làm chín bằng cách chưng cách thủy. Bánh ít gói lá thì lột ra ăn từng cái còn bánh ít trần nhưn mặn khi ăn xếp vô dĩa chừng năm đến sáu cái, lại chan nước cốt dừa và rưới mỡ hành, các loại đồ chua và ít tóp mở chiên dòn lên trên, cộng thêm chén nước mắm pha chua ngọt bên cạnh.


***

Những lần nhớ miền Tây, tôi thường đố chơi các con tôi:

Bánh gì mình dẹt, nhưn tròn?
Tên là bánh ít, thảo thơm thì nhiều?

Hay:

Bánh gì ăn ít mà nhiều?
Bánh gì cả thúng vẫn kêu chưa vừa?

Hoặc khi chúng còn nhỏ, tôi lục trong trí nhớ của mình, kể một câu chuyện cổ tích về sự tích bánh ít. Ngoài bánh chưng, bánh dày mà người miền Tây gần như không biết, thì bánh ít cũng được kể lại bắt nguồn từ thời các vua Hùng. Chuyện kể rằng ngoài Lang Liêu, Hùng Vương thứ 6 còn có một nàng công chúa Út. Và chính từ chiếc bánh chưng, bánh dày của anh trai, nàng đã sáng tạo ra cái bánh ít bằng lấy chiếc bánh dày bọc lấy nhân của chiếc bánh chưng và phỏng theo hình dạng của bánh chưng và bánh dày để gói thành kiểu bánh mới. Để thể hiện sự khiêm nhường của mình, công chúa Út làm nhỏ lại, ví phận mình chỉ là út ít. Từ đó, bánh của nàng Út được lưu truyền trong dân gian cùng với bánh chưng và bánh dày và dân gian gọi là bánh nàng út ít, sau thì gọi gọn thành bánh ít. Từ ngày đó đến bây giớ, chiếc bánh ít xưa đã thay hình đổi dạng khi dân tộc Việt tiến dần về phương Nam, nhưng hầu như cả ba miền, bánh ít luôn là lễ vật trên bàn thờ tổ tiên trong ngày giỗ, ngày tết. Trong các đám giỗ, khi tiễn khách về, người nhà còn gởi theo cho khách một ít quà bành, trong đó chắc chắn có năm ba chiếc bánh ít.

Tuy đơn giản như vậy, nhưng những hình ảnh thân thương của bức tranh quê ngày cũ giờ đã dần lùi xa. Những đứa trẻ thành phố không phải cháu nào cũng biết các loại bánh mà không phải thời gian xa xôi lắm, ba mẹ chúng từng sung sướng khi được ăn trong những ngày giỗ, ngày Tết. Ngay cả tại quê ngoại của các con tôi, vùng trung tâm đồng bằng nhưng giờ thưa người, giao thông thuận tiện, khi nhà có đám tiệc việc gói bánh cũng không thường xuyên như thời trước và người dân quê cũng quen dần với những hộp “bánh tây” nhiều màu, gọn nhẹ, rẻ tiền…

Trong những mùa hè bây giờ, khi cùng gia đình về miền Tây vừa ăn tết mùng năm, hay đám giỗ kết hợp cho các con thăm ngoại, về quê, “du lịch dã ngoại miễn phí”,  tôi thường ngồi bên hiên nhà sau, có khi buổi trưa nắng vàng, có khi trong những chiều mưa nhỏ, nhìn về một chiếc cối đá to bị bỏ quên bên góc vườn. Tôi nhớ rất rõ hình dáng thanh mảnh của nàng đi giữa các bờ mương chọn những tàu chuối lành lặn nhứt để làm bánh ít. Nhưng giờ thì mẹ chúng tôi đã già, con cháu phần lớn đi xa hay bận việc áo cơm, nên việc xay bột, bồng bột, chọn lá gói bánh trở thành nhiêu khê. Và chọn lựa được đưa ra là nhờ một bà cụ vẫn giữ truyền thống bằng nghề làm các loại bánh cổ truyền, gói theo đơn đặt hàng. Những chiếc bánh tét, bánh dừa, bánh ít… bà cụ gói cũng đẹp, cũng ngon, nhưng hồn cốt xưa đã phần nào mai một.

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

(Bài đã in trong tập "Hương vị miền Tây"- nhiều tác giả- sẽ in trong tạp bút "Miền Tây- chưa xa mà đã xưa")