Hiển thị các bài đăng có nhãn phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phê bình văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

Lợi thế của âm nhạc




Sau 1975, gần như mọi loại hình văn nghệ của miền Nam đều bị cấm, bị xem như “nọc độc văn hóa của Mỹ Ngụy”, trong đó văn chương và âm nhạc được xem như loại ‘đầu sỏ”! Thế nhưng trong khi văn học, với các loại sách báo gần như “biến mất”, chỉ còn lại lèo tèo trong các hiệu sách cũ, trên các lề đường đầy bụi hoặc được giấu giếm một cách hiếm hoi trong các tủ sách gia đình thì âm nhạc,mà điển hình là các ca khúc (được người cộng sản gọi một cách khinh bỉ là nhạc vàng (vọt)) vẫn có một đời sống bán công khai và liên tục, theo tôi đó là do âm nhạc đã biết phát huy lợi thế do tính chất đặc thù của mình.

Ai sống ở Việt Nam sau 1975 đều nhận thấy các ca khúc cũ chỉ “im hơi” một vài năm đầu do tâm lý sợ hãi rồi sau đó vẫn tiếp tục được nghe, được hát trong các gia đình miền Nam và sau đó nó “lấn sân” ra miền Bắc (phần lớn là các ca khúc “bình dân” - boléro) và lấn át hẳn các “ca khúc cách mạng”. Và sau hơn 30 năm, khi thế hệ nhạc sĩ viết ca khúc cũ đã thôi sáng tác hoặc mất đi, các thế hệ nhạc sĩ trẻ lớn lên đã sáng tác theo chiều hướng khác, một điều lạ lùng là người ta vẫn cứ nghe, cứ hát, không chỉ tại Việt Nam mà còn tại các nước mà người Việt đến định cư, những ca khúc cũ một thời, tưởng chừng nó vẫn không cũ đi dù rằng so với thế giới, nó đã hoàn toàn lạc hậu!

Vì sao có hiện tượng này? Nhiều người cho rằng có lẽ các nhạc sĩ viết ca khúc hiện nay chưa đủ tài năng để viết ra những bài ca vượt khỏi “cái bóng” của các nhạc sĩ cũ như  Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng… hay “bình dân” như Trần Thiện Thanh, Trúc Phương, Lam Phương… và cả xa xưa như Văn Cao, Đặng Thế Phong… cùng với đó là sự bế tắc trong “dòng nhạc đỏ”, khi những “Tiếng đàn talư, Bác cùng chúng cháu hành quân”… đã trở thành xa lạ. Thế nhưng chủ đề bài viết này không phải bàn về chuyện “vì sao vẫn hát nhạc vàng” mà lại nói về chuyện khác, chuyện “vì sao hát được nhạc vàng”.

Lý do thực ra cũng khá là đơn giản. Thứ nhất không như thú đọc sách, phải kén chọn người đọc theo từng loại sách, đề tài, các ca khúc âm nhạc có vẻ “dễ dãi’ hơn. Một ông “cử nhân văn chương” cũng có thể mê “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” như một bà bán xôi chè trong khi nếu ông ta “hứng bất tử’có đem tặng “bà chị” này một cuốn sách của Phạm Công Thiện thì chắc bà chị chỉ có một cách xé sách ra làm giấy gói xôi! Ví dụ trên cho thấy âm nhạc đã mang tính “quần chúng” hơn hẳn văn chương và chính vì vậy nó vẫn còn “đất sống”. Thứ hai: Đất sống ở đây là do tính đặc thù của âm nhạc ca khúc như dễ nghe, dễ nhớ, dễ… hát. Và đặc biệt hơn dễ… sản xuất, nhân bản!

Cùng bị cấm cùng với sách, nhưng các băng đĩa nhạc ngày ấy, dù bị tịch thu vẫn còn tồn tại trong các gia đình, và chuyện “sang một cuộn băng” để tặng nhau là một chuyện khá dễ dàng, trong khi đó để “nhân bản” một cuốn sách là quá nhiêu khê. Trước những năm 1990, các tiệm photocopy rất ít và được quản lý chặt chẽ, đem một cuốn sách in tại miền Nam ra tiệm để “photo” là đối diện với án tù vì tội “tuyên truyền văn hóa phẩm Mỹ ngụy” độc hại trong khi chỉ cần có một cái catsette đặt trong phòng ngủ là bạn có thể thoải mái săng băng.

Một lý do khác nữa là khi cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ mạnh lên, đông đúc thì nhu cầu thưởng thức âm nhạc đã giúp các “trung tâm âm nhạc” phát triển nhanh chóng. Với lợi thế của một đất nước tiên tiến, các nhạc phẩm cũ nhanh chóng được biểu diễn, thu âm với các phương tiện hiện đại bật nhất, chỉ có tinh thần, cách hát là vẫn cũ và từ Mỹ, các băng đĩa ấy tìm đủ mọi cách trở về Việt Nam, và tại đây nó nhanh chóng được nhân bản (lậu) và cũng phát hành (lậu) ra cộng đồng!

Và nếu để ý chúng ta cũng thấy rằng so với sách báo thì âm nhạc có vẻ được chính quyền “dễ dãi” hơn. Giả sử bạn có ôm đàn nghêu ngao ‘ngày xưa ai lá ngọc cành vàng” mà một “ông công an” văn hóa đi ngang, nghe được thì cũng… chả sao, và sau này thì hầu như chuyện “nghe và hát nhạc vàng’ tại gia đình là điều không bị cấm, dù bạn có rống lên “anh không chết đâu anh”, ‘anh Quốc ơi” hay “hát cho người nằm xuống” cũng chả có ma nào để ý, bởi có thể họ cũng chả biết mấy “thằng cha” trong các bài ca não nùng ai oán kia là ai!

Ngày nay, khi mà không khí đã “dễ thở” hơn, chuyện lật lại vấn đề “in lại và công nhận” các sách, báo miền Nam chắc chắn gặp rất nhiều nhiêu khê và cả không tưởng trong một thể chế toàn trị đầy kiêu ngạo nhưng nhiều mặc cảm, thế nhưng các ca khúc viết trước thời điểm 30.4.75 thì gần như “ngoài cuộc” vì nó vẫn cứ sống từ đó đến giờ. Chỉ có hơn 50 bài của Phạm Duy được hát công khai trên TV, trên sân khấu nhưng tất cả các ca khúc của ông vẫn được hát công khai trong các cuộc vui bạn bè, trong các quán karaoke và cả đôi khi trong các phòng trà. Tình trạng này cũng tương tự như những ca khúc bị cấm của Trịnh Công Sơn bởi người ta vẫn cứ hát, trong khi ấy các “ca khúc cách mạng”, các bài hát ngợi ca lãnh tụ của các nhạc sỹ được ca tụng như thiên tài thì chả có ma nào ngó tới, ngoài các dịp lễ lạt.

Câu chuyện có ông “nhạc sỹ lớn” phân bì với Phạm Duy (khi thấy ông này được công ty Phương Nam ưu ái) ồn ào một thời hay chuyện “live show” của Phạm Duy, của Chế Linh và cả Vinh Sử (người miền Nam không mặn mà lắm với ông này) cháy vé tại Hà Nội mới đây chính là chuyện “nhãn tiền” về một sức sống mạnh mẽ của văn nghệ miền Nam cho giới lãnh đạo văn nghệ hiện tại, và đó phải chăng là lý do rõ ràng nhất để họ quyết tâm phủ nhận văn học miền Nam?

N.Đ.B.

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Nhà văn Nguyễn Đình Bổn: Chuyện buồn về những cô gái 'mút mùa Lệ Thủy'

(Thethaovanhoa.vn) - Tập truyện dài Mút mùa Lệ Thủy (NXB Hội Nhà văn) vừa phát hành của Nguyễn Đình Bổn đề cập tới một chủ đề quen thuộc, nhưng ít người đưa vào văn chương: lấy chồng ngoại. Kết hợp cái nhìn báo chí (phi hư cấu) và văn chương (hư cấu), với ngôn ngữ dung dị, chân chất, Nguyễn Đình Bổn đã đem đến cho người đọc một hiện thức khó làm ngơ.
“Nhiều người đọc xong Mút mùa Lệ Thủy nói rằng đây là một tác phẩm quá buồn, nhưng chưa một ai cho rằng tôi bôi đen xã hội, bởi tôi luôn trung thành khi miêu tả và tái hiện cuộc sống”, Nguyễn Đình Bổn chia sẻ.
“Mút mùa Lệ Thủy”, vì sao?
“Tôi sống ở miền Tây gần 20 năm, ngay trung tâm đồng bằng, là rể của miền Tây. Vùng đất đó lớp người trung niên thường dùng cụm từ “mút mùa Lệ Thủy” như kiểu (chơi, nhậu, ra đi…) tới bến (tới cùng), không bỏ dở nửa chừng. Ví dụ như nói: “Ê, bữa nay nhậu mút mùa Lệ Thủy nha mậy”, có nghĩa là không say không về” - Nguyễn Đình Bổn cắt nghĩa.
Trong tập truyện của Nguyễn Đình Bổn, đây là câu cửa miệng của một nhân vật nam, có con gái gả cho Đài Loan. Và như rất nhiều cô gái khác tại vùng đất này, họ đã đi “mút mùa Lệ Thủy”, nghĩa là đi biền biệt, không hẹn ngày về, dù trong lòng họ không muốn đi. Hoặc đi nhưng không thể quay về.
Những cuộc hôn nhân đó, hầu như đều bắt nguồn từ đồng tiền, nói trắng là họ (gia đình và các cô gái) đều muốn “đổi đời” bằng cách ly hương, hoàn toàn thiếu vắng tình yêu. Cần biết rằng, không phải tất cả người miền Tây Nam bộ đều thích lấy chồng ngoại quốc. 
Nó chỉ nằm trong một bộ phận tầng lớp người nghèo, sống ở nông thôn. Do không có điều kiện học hành, lại thiếu thông tin, nên không biết và cũng không cần biết những gì đang chờ mình tại những đất nước xa lạ.
Bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, và nhiều nhất là vỡ mộng vì tất nhiên những người đàn ông muốn lấy vợ Việt đều xuất thân từ những tầng lớp rất thấp. 
Về chuyện này chúng ta đều có thể đọc thấy trên báo, nhưng rất tiếc các cô gái đó không hề đọc báo!? Một bi kịch rất thật và thời sự, từ con người, cách nói cho đến bối cảnh, bởi đây đó vẫn còn nhiều xóm làng, cù lao muốn “đổi đời nhờ vào việc gả con gái cho người Đài Loan (Trung Quốc), và giờ đây là Hàn Quốc, Trung Quốc Đại lục... 

Đứng về phía phụ nữ
Trước đây, trong các tập truyện ngắn như Đuổi quỷ, Tân liêu trai, Giữa trần gian và địa ngục, Kiều, Phượng trắng…, vấn đề nữ giới đã được Nguyễn Đình Bổn theo đuổi, tô đậm; trong tập tạp bút sắp phát hànhĐàn bà, đàn ông, Facebook (NXB Hội Nhà văn), rõ ràng phụ nữ chiếm đến 30% tựa đề, riêng nội dung thì phải chiếm hơn 70% dung lượng.  
“Trong sáng tác cũng như trong đời sống, tôi là người tích cực bênh vực nữ quyền, luôn lên tiếng về bình đẳng giới, nhân vật của tôi phần lớn là phụ nữ, nhất là những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt. Sau Mút mùa Lệ Thủy, tôi đang viết một tiểu thuyết, dù bối cảnh là Sài Gòn, nhưng nhiều chương cũng nằm trong đề tài này”, Nguyễn Đình Bổn cho biết.
Nguyễn Đình Bổn sinh năm 1962 tại Quảng Nam, nhưng sống thời thơ ấu ở Cam Ranh, sau năm 1975 xuôi vào đồng bằng sông Cửu Long gần 20 năm, anh cầm bút tại đây, hiện sống ở Sài Gòn.
“Tôi đã từng muốn cách tân trong cách viết của mình, đã thử nghiệm trong khá nhiều truyện ngắn nhưng cuối cùng tôi chọn hiện thực, bởi nó luôn đầy ắp, khốc liệt, hiện diện mọi nơi. Nó như một nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngòi bút, tạo cảm hứng sáng tạo”.
“Điều tôi mong muốn nhất sau mấy chục năm làm nghề là làm sao để có môi trường văn chương sôi động hơn; các nhà xuất bản cũng cần dũng cảm và thoáng hơn trong việc nhìn nhận tác phẩm so với thời cuộc. Làm sao để mỗi nhà văn khi đặt bút viết đừng tự biên tập mình, cứ để tác phẩm tuôn chảy đầy sức sống, như vậy mới hi vọng giữ được giá trị chân thật”, Nguyễn Đình Bổn thẳng thắn.
Văn Bảy
Thể thao & Văn hóa

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

ĐỔI ĐỜI Ư? MÚT MÙA LỆ THỦY CÒN CHƯA THẤY!



Khát vọng đổi đời là khát vọng chính đáng nhất mà bất cứ ai cũng muốn theo đuổi. Khi mà người ta ở tầng càng thấp trong cái tháp phân tầng xã hội thì khát vọng ấy lại càng lớn, nên những vận động để đổi đời lại càng khốc liệt. Nhân tiện, có thể thử đọc một quyển rất đáng đọc của Stefan Zweig, tên sao truyện vậy: "Khát vọng đổi đời".

Tin tức đầy ra đấy, rằng các gia đình nghèo ở vùng quê Miền Tây Nam bộ sẵn sàng gả con giá lấy chồng ở ĐL, HQ chỉ để hy vọng đổi đời cho con, nhờ thế đổi đời luôn cho cha mẹ, mà chẳng - hay chẳng thể - quan tâm gì được đến tương lai của đứa con gái bị gả đi; lấy chồng ĐL, HQ là một cơ hội, một đặc ân. Chả thế mà, cũng vẫn là tin tức, người ta tổ chức được cả những lần chọn vợ mà các chú rể đến xem và chọn như người đi chọn con giống! Rồi thì đổi đời đâu chưa thấy, chứ kết cục bi thảm là có đấy.

Đau lòng không? Có, có đấy. Nhân vật trí thức nhất trong "Mút mùa lệ thủy", một thanh niên tốt nghiệp đại học nhưng không thể/không muốn sống ở thành thị mà chọn về ở cùng vườn ruộng, vào một lúc say đã gần như gào lên câu hỏi rằng tại sao chúng ta thanh niên trai tránh thế, có ăn có học thế mà chẳng làm được gì, cứ phải ngồi nhìn con gái ở quê lũ lượt đi lấy chồng ĐL để rồi phải chịu biết bao cơ cực. Câu hỏi loại đó chắc chắn phải đến mút mùa lệ thủy mới có câu trả lời!

Vì đâu nên nỗi? Hay là, ai chịu trách nhiệm về những thương tâm mà người ta phải chịu đựng để vươn đến một cuộc đời khác? Rất có thể đấy là câu hỏi mà tác giả Nguyễn Đình Bổn muốn gửi gắm trong quyển truyện dài - nhưng khá ngắn - của mình. Chi tiết trong truyện rất thật, như là nhìn thấy được ở đâu đấy; ngôn ngữ cũng vậy, hệt như đang ở một xóm Miền Tây nào đó đã đi qua.

Chưa có dịp gặp anh Bổn, chỉ chat với nhau ít câu trên FB, còn sách thì do các bạn quen đem về. Đọc xong có chút tiếc, là giá như anh dụng công thêm chút nữa để hình vóc nhân vật sắc nét hơn... Nhưng nói đi phải nói lại, kể được câu chuyện như thế đã là...đáng kể lắm rồi!

Vũ Thái Hà

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

MÚT MÙA LỆ THỦY




Tác giả: Nguyễn Đình Bổn
Thể loại: Truyện dài
Nxb: Hội Nhà Văn
Năm xuất bản: 2015



Thoạt tiên, xuất hiện một con bé mười lăm tuổi “tuy cơm không đủ ăn nhưng mắt đen thui, da trắng bóc, chân cẳng lại thon dài”. Đó là Út Loan. Con bé đứng dưới túp lều tranh, nhưng mặt nó rực lên như đóa phù dung, tươi tốt, trẻ trung và hồn nhiên. 
Rồi nó biến mất.
Và nó lại xuất hiện trên sân khấu, dưới ánh đèn màu chớp sáng, xoay vòng, mờ ảo. Út Loan biến thành một cô người mẫu sang trọng, lộng lẫy và hào nhoáng. Mà cũng có thể nó là đào hát cải lương hay diễn viên điện ảnh. Nhưng chính Út Loan tự xưng mình là vợ một giám đốc người Đài Loan giàu có. Nó nói: “Ai muốn đổi đời thì theo tôi.”
Ở cái xóm nghèo này gia đình nào cũng muốn đổi đời.
Nhưng Út Loan không phải là nhân vật chính. Bóng nó mờ dần và biến mất.
Từ trong cánh gà của sân khấu, một cô gái nhu mì, khép nép bước ra. Đó là Phượng, cô quyết định bái bai người yêu để theo Út Loan sang Đài Loan vì cha mẹ cô muốn “đổi đời”, muốn dỡ cái nhà lá xập xệ để xây “nhà tường”, muốn một cái ti-vi, một chiếc xe gắn máy. 
Và cô trở thành nhân vật chính trong truyện.
Từ đó trên sân khấu hiện ra nhiều cô gái khác. Những quần áo quê mùa biến mất, thay bằng những bộ cánh rực rỡ. Bọn con gái bay quanh Út Loan, cười khúc khích. Xóm nhà lá chợt đùn lên, đùn lên… thành những ngôi nhà tường sơn đủ màu: xanh lá cây, vàng nghệ, hồng phấn.
Phép lạ ấy không đến từ “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mà đến từ những nguồn vốn tự có của các cô gái miền Tây trắng trẻo, thon thả… tuy nhà rất nghèo.
Nhưng họ không phải là gái điếm. Họ theo Út Loan sang Đài Loan làm vợ mấy ông già hay đi bán trầu…ôm.
Trầu ôm? Cũng giống như bia ôm. Ăn mặc hở hang. Hai mảnh. Giày cao gót, đứng trong những ki-ốt sang trọng dọc theo xa lộ, hễ có xe con đến là bước ra đón khách để mời…ăn trầu (vì đàn ông Đài Loan ưa ăn trầu, với niềm tin rằng ăn trầu sẽ tăng cường khả năng tình dục!?).
*
Tác phẩm Mút Mùa Lệ Thủy phô bày một nghịch lý: Những gia đình nghèo không ước mơ cho con đi học thành kỹ sư bác sĩ về giúp gia đình mà chỉ muốn đưa con gái lên thành phố hoặc ra nước ngoài kiếm tiền. Các cô bé trở thành lao động chính, trai tráng thì suốt ngày nhậu. Và chết trẻ. Làng không còn con gái. Làng chỉ có ông bà già và dăm ba thằng con trai say xỉn. Và tất cả đều ngóng mỏ chở những cô con gái đem tiền về.
Tác phẩm Mút Mùa Lệ Thủy còn là tập hợp những cảnh đời nghiệt ngã của các ô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan. Làm việc cực nhọc, bị đánh dập, chửi rủa… phài trốn chồng, bỏ nhà đi bán… trầu ôm. Nhưng vì xã hội người ta giàu có nên những nghề ấy vẫn kiếm được khá nhiều tiền, giúp các cô có thể gởi về cho cha mẹ mình “xây nhà, sắm xe, sắm ti-vi, tủ lạnh…”
Nhưng phần cuốn hút nhất trong tác phẩm Mút Mùa Lệ Thủy là câu chuyện tình bi thương của cặp nhân vật Phượng và Dân. Mối tình đằm thắm, lẽ ra phải lãng mạn, nhưng lại bị xô đẩy vào những bi kịch từ ước muốn thoát nghèo.
Tác phẩm kết thúc bằng một cuộc thảm sát mà có lẽ không ai muốn. Kẻ sát nhân và người bị hại đều đáng thương. Lẽ ra những người ấy đã không chết nếu những cảnh đời trong cái xóm nghèo ấy không bị xã hội bỏ mặc trong lãng quên, trong dốt nát và nghèo đói.
Tác phẩm là hồi còi hụ của chiếc ambulance chở trong lòng nó cả một đám dân cùng khổ, mất phương hướng và đang hấp hối trong một cơn mê sảng đổi đời bệnh hoạn.


ĐÀO HIẾU
11/7/2015

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Cuộc đời ngoài cửa- một hiện thực chưa tới bến! (*)



Cuốn tiểu thuyết mở đầu bằng một tình tiết thiếu hấp dẫn, nếu không  nói rằng có thể gây chán, khi hai “lão bạn già” gặp nhau và cùng nhau kéo đến một quán bia vỉa hè cũ để mà hoài niệm. Một trong hai “lão già” đó là nhân vật chính, người sẽ dẫn dắt bạn đọc đi xuyên suốt cuốn tiểu thuyết này, và chính sự va đập của những nhân vật trong một cuộc hành trình hơi phi tưởng, đã làm nên cái hấp dẫn từ những chương sau.

Cuộc hành trình đó, được mô tả như một chuyến đi bằng xe ô tô “khắp đất nước”, một chuyến đi thấm đẫm chất bi hài, nhưng bi lấn át hài, ở đó nhân vật chính, một người đàn ông có thể gọi là “thành phần trí thức”, bởi ông ta từng là giáo viên dạy Văn, ông ta còn là một nhà thơ không chuyên và đang chạy trốn một bi kịch thời đại: sự nguội lạnh, mâu thuẫn cách sống dẫn đến tan vỡ của một gia đình truyền thống. Đây là một mẫu nhân vật có phần cá biệt, sống khép kín và sau biến cố gia đình mới dám thử đưa đời mình ra ngoài cuộc đời bằng một chuyến đi. Rồi qua những mảnh đời ông gặp ngoài cửa xe, qua tương tác với cô con gái tham gia một cách bất ngờ vào phút chót, ông đã cư xử, nhìn lại, suy gẫm về chính đời mình, và hơn hết là thế thái nhân tình.

Trong suốt cuộc hành trình vất vả của hai cha con, từ những cuộc đời ngoài cửa xe của nhân vật, tác giả dần hé lộ một bi kịch về nhân thân của nhân vật chính. Và trong một không gian tù túng là chiếc xe hoặc ngột ngạt như phòng trọ, phòng khách sạn, sự tương tác bắt buộc đó làm bật lên cái bi kịch xung đột hai thế hệ, hai cách sống, hai cách nghĩ và tất nhiên hai cách cư xử hoàn toàn khác nhau trước những tình huống mà cha – con họ gặp phải. Nếu người cha cho rằng cô con gái của mình quá vô cảm, ích kỷ, chỉ biết lo cho bản thân mặc kệ những cảnh đời quanh mình thì cô con gái trong độ tuổi chớm thành niên, lại nhìn người cha với ánh mắt xa lạ, đánh giá cha như một kẻ rỗi hơi, ưa chen vào những chuyện không phải của mình và có phần khùng điên, trong một đối thoại cô bé đã đưa ra nhận xét một cách khái quát: “… bây giờ ai chẳng khùng. Con có một trăm đứa bạn, cả trăm đứa khùng hết trơn. Mỗi đứa khùng với một lý do khác nhau. Đứa gia đình. Đứa yêu đương nhăng nhít. Nhiều đứa khùng rất… mông lung, chẳng hiểu tại sao khùng. Trẻ khùng kiểu trẻ, già khùng kiểu già” (trang 89)

Cuộc hành trình tưởng như vô định đó, đôi khi lại phải nhờ vào phương tiện hiện đại là chiếc điện thoại nối mạng của cô con gái để… dò đường. Họ đã lên núi, xuống biển, ghé miền quê, đến các thành phố chưa từng đến… tiếp xúc, chung đụng với nhiều cảnh đời, nhiều số phận. Từ chuyện bi hài như một tay “nhà thơ” lợi dụng sự chân chất của người dân tộc, đến nỗi đau uất nghẹn của những nông dân mất đất, ngư dân chết biển, thanh niên nghèo bán thận, những cô gái điếm cô đơn, những tay chủ quán, chủ khách sạn bịp bợm… với sự dẫn dắt câu chuyện khá tự nhiên, cuốn tiểu thuyết dần cuốn người đọc vào cảm xúc bỡ ngỡ nhưng cam chịu của nhân vật chính, hụt hẫng với ông khi đối diện những địa danh hằn trong trí nhớ qua thơ ca lãng mạn, giờ vẫn còn đó mà đã biến mất, bởi sự thực dụng khốc liệt của thời cuộc. Qua mắt nhìn của nhân vật, đó là một cuộc đổ vỡ, từ gia đình đến xã hội, từ ngoại cảnh đến nội tâm!

Và chính cái không thích nghi với thực dụng đó, đã biến nhân vật thành cá biệt. Tuy vậy cái cá biệt đó không phải không mang tính phổ quát. Nhân vật chính, luôn nghĩ đến tha nhân trước mình, hết lòng vì tha nhân, có muốn làm người xấu cũng không xấu được, một mẫu người “cổ điển” nhưng lại cần cho một xã hội nhân bản, oái ăm thay lại gần như lạc loài giữa đám đông hiện tại, bi kịch hơn, chính cái lòng trắc ẩn đó lại khiến ông ta luôn lâm vào những tình thế khó xử ngoài đời và lạc loài ngay trong cái tổ ấm của mình và một phần là tác nhân làm nó đổ vỡ.

Càng về cuối, “cuộc đời ngoài cửa” càng khốc liệt, một sự khốc liệt dành cho một nhân vật lạc loài và lỗi thời. Đó có thể xem là một kẻ thất bại, bất lực từ thể chất đến tinh thần, dùng dằng, không dám chọn cho mình một cách sống lên núi, cất lều ở một mình như người bạn thân của ông ta (chương 3) và người bạn tình cờ gặp bên hẻm núi (chương 20- chương cuối) nên cái kết thúc bi thảm giành cho ông là đương nhiên. Cuộc đời thực tàn nhẫn ngoài kia chối bỏ ông dù ông đã thiết kế một hành trình xuyên suốt chiều dài đất nước để đi tìm nó. Nhưng do chỉ và duy nhất với tâm thức hoài niệm, tiếc nuối cái cũ một cách thụ động nên số phận ông gần như đã được báo trước: vực thẳm, chỉ có một cách duy nhất: lao xe vào vực thẳm!

Về ngôn ngữ của cuốn tiểu thuyết này, nhất là ngôn ngữ đối thoại, theo tôi, chưa nhuần nhị lắm. Có vẻ như tác giả cố tình trung tính hóa nhằm xóa nhòa ranh giới giữa các vùng miền, nhưng chính điều này lại làm cho những đoạn trao đổi giữa các nhân vật gây cảm giác khô cứng, bởi trong một tác phẩm, đối thoại là một trong những biểu cảm quan trọng nhất, nối liền độc giả với tác phẩm, nhất là trong một cuốn sách mà các nhân vật đều không có tên.

Dù vậy đây có thể xem là một cuốn tiểu thuyết rất đáng đọc. Nhìn lại thế hệ của nhà văn Nguyễn Danh Lam và trẻ hơn, khi mà những cây bút đang chạy theo những trào lưu ngôn tình, bí hiểm… để tìm kiếm sự nổi tiếng và lợi lộc thì sự quay trở lại với mô tả hiện thực, cố gắng tiếp cận hiện thực khốc liệt như nó đang là (tất nhiên trong hoàn cảnh sáng tác –xuất bản hiện nay, điều này còn xa vời) là một ý thức đầy tự trọng của người cầm bút.

Chưa tới bến! Tôi nghĩ vậy khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này. Một cuốn khác của Nguyễn Danh Lam đang nằm trong kệ sách của tôi, đó là cuốn “Giữa dòng chảy lạc” nhưng tôi chưa muốn đọc nó vì không muốn cảm xúc bị phân tán. Chưa tới bến, hiểu theo kiểu Nam bộ là “chưa đã, chưa thấm, chưa tới” nhưng cũng có thể hiểu rằng hạnh phúc (của nhà văn) là một cuộc hành trình (của chữ) chứ không phải bến bờ của nó.

Còn với nhân vật, chưa đến bến có nghĩa là thay vì chết, anh ta nên đi… làm cách mạng!

NGUYỄN ĐÌNH BỔN


(*) Tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam- NXB Hội Nhà Văn

Phê bình văn học!





Hiện tại, cái gọi là "phê bình văn học" Việt Nam (trong nước) theo tôi có những điểm chính sau:

1. Các nhà "phê bình hiện thực xã hội chủ nghĩa": Đây là những nhà phê bình ăn lương nhà nước. Có cả một Hội đồng phê bình lý luận cấp trung ương nhưng cái tổ chức này già nua và giáo điều. Họ vẫn viết một cách công thức, gò bó, xa sự thật. Họ nhìn xã hội bằng con mắt giả trá, vẫn cứ đòi hỏi phải theo cái khuôn khổ cũ, vẫn mong mỏi tác giả tìm ra một “con người mới xã hội chủ nghĩa”, dù chính họ biết tỏng chẳng hề có thứ con người kỳ quái đó!

2. Các "nhà phê bình" (thường phóng viên, biên tập viên) trên báo: Họ thường bắt đầu giới thiệu một tác phẩm của một nhà văn bằng các loại câu đại khái: “Tôi quen X (nhà văn, gọi tên suồng sã cho ra vẻ thân tình) ở hội thảo, ở quán cà phê, ở… đâu đó v,v…), và sau đó là rất nhiều từ dùng để mô tả mối quan hệ này, mô tả X sống ra sao, đối xử với bạn bè hay và đẹp như thế nào, có sách là gọi ngay điện thoại để biếu tôi v.v…, và cuối cùng “hạ cố” giành cho một số lời khen chung chung, nhạt nhòa, thậm chí ngu xuẩn vì nó chẳng dính gì đến tác phẩm (bởi họ lười đọc, có đọc cũng đọc lướt qua). Và vì vậy người đọc nghiêm túc, chỉ nhận những thông tin vô bổ về tác phẩm, ngoại trừ cái bìa, hay trang 1 tác phẩm, nơi có … chữ ký nhà văn giành cho người viết cái gọi là “phê bình” đáng phỉ nhổ kia.

3. Các "nhà phê bình" là các cây bút chơi thân nhau trong các Hội nhà văn, các tờ báo. Một khi có tác phẩm của kẻ "cùng hội cùng thuyền" ra đời, họ nhất mực cất lên một giàn đồng ca thắm thiết. Họ thường ca ngợi tác giả ngoài cái họ đang phê bình, ví dụ như X đã đoạt những giải thưởng nào, sách của X được hồ hỡi đón nhận ra sao, X đã ra bao nhiêu đầu sách....Thường nếu đọc bài của họ, người đọc rất dễ nhầm lẫn, cứ tưởng đó là tác phẩm xứng đáng để đọc, nhưng phần lớn là gặp trò lừa đảo.

4. Các nhà phê bình làm dáng với chữ nghĩa: Đây thường là những cây bút quen thuộc, có ý thức làm mới, nhưng thích phô trương “sự học” của mình. Và vì vậy nhiều khi họ dùng quá nhiều từ mơ hồ để phê bình một tác phẩm… ít mơ hồ hơn họ. Những “ngoại biên”, “chiều kích” nào đó của tác phẩm được nhắc đến nhiều lần, nhưng để làm rõ (nhiệm vụ của phê bình) vì sao ngoại biên thì càng đọc, người đọc càng rối rắm!

5. Các nhà văn lớn (tuổi) viết phê bình: Loại này thường xem tác giả như… con em của mình, họ có khi chẳng đọc tác phẩm mà vẫn đưa ra những lời khuyên như kiểu xoa đầu. Thực ra hiện nay các nhà văn Việt Nam sinh trước 1975, không một ai đủ tư cách “xoa đầu” những nhà văn hiện đại. Bọn “ăn bóng” này rất tởm!

Tất nhiên ở đây không cần liệt kê những cây bút "phê bình" là kẻ ăn lương của các nhà xuất bản, đơn vị phát hành sách, bởi những bút nô này chỉ có một việc thuần nhất là ca ngợi.

Kết: Một số nhà văn thành danh của thế giới không ưa các nhà phê bình vì không chịu nổi sự công kích của họ. Nhưng tại Việt Nam, khi nền phê bình văn học gần như bằng không hiện nay, lại đẩy các tác phẩm nghiêm túc về mặt sáng tạo vào sự quên lãng của công chúng vì ít ai biết đến. Trong khi đó các loại sách nhảm nhí, thông tục lại được quảng bá rộng rãi nhằm thu lợi nhuận. Và giống như “ca sĩ Lệ Rơi”, có những cây bút tầm xoàng sau vài giờ đã thành “nhà văn nhà thơ” nổi tiếng, Hội chợ sách vừa qua tại Sài Gòn và vài cuốn sách vừa ra đời là một mình chứng cho điều tôi vừa nói.

Tất nhiên sống trong một xã hội đang suy đồi về mọi mặt, những cố gắng của một nhà văn ý thức rõ ràng về nghề nghiệp của mình đôi khi vô ích, nhưng họ vẫn miệt mài viết, chịu đựng và sáng tạo như một "nghiệp dĩ" của mình. Nếu những nhà văn đó không thỏa hiệp, không ca ngợi cái xấu vì lợi ích bản thân, tôi nghĩ tác phẩm họ xứng đáng được giới thiệu với công chúng bằng ngòi bút phê bình công tâm, thật sự đọc đến chiều sâu tác phẩm của họ.

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Từ đọc ngôn tình đến… viết ngôn tình!



Nhiều người quan tâm đến văn hóa đọc trong nước cho rằng kể từ năm 2006, sau khi cuốn sách do Trang Hạ dịch có tên "Xin lỗi em chỉ là con đĩ" trở thành hiện tượng, đó cũng là dấu mốc để truyện ngôn tình Trung Quốc ào ạt xâm lấn thị trường Việt Nam. Hiện nay tuy nhiều người cho rằng thứ sách nhảm nhí này đã thoái trào nhưng thực sự chưa có một con số thống kê chính xác nào để biết được sách ngôn tình hiện đang chiếm tỉ lệ bao nhiêu phần trăm trong số các đầu sách văn học được xuất bản tại Việt Nam, chỉ biết rằng nó vẫn là những đầu sách áp đảo về số lượng trong các nhà sách từ Bắc chí Nam. Vì tiền, các nhà xuất bản, phần lớn là phía Bắc, đã bán giấy phép ào ạt để cho ra đời loại sách này, và cũng vì tiền, các nhà sách lớn nhỏ luôn trưng bày nó tại những nơi “bắt mắt” nhất mà không hề có một cảm xúc xấu hổ.

Cái gọi là sách ngôn tình của Trung Quốc, mà nhiều người mỉa mai đặt tên “sến Tàu” là một loại sách á văn học, đầy tính chất uỷ mị, viển vông và cả gợi dục nhưng lại được các nhà xuất bản, các người dịch trẻ biết Trung văn tung ra ào ạt, và như một hệ lụy hiển nhiên, các cây bút trẻ Việt Nam cũng bắt đầu viết theo thể loại này. Nó nhanh chóng được các đầu nậu đánh hơi và ngay lập tức tung hê lên thành một “hiện tượng” để bán sách. Như việc một nữ MC truyền hình tung ra một cuốn sách dán nhãn 18+ với hình bìa là ảnh hở vòng một của chính cô, rồi mới đây việc một tập thơ cũng của một tác giả nữ, mang cái tên dài và đầy hơi hướm ngôn tình “Anh ngủ nữa đi anh, em phải dậy lấy chồng”, ngôn ngữ bên trong đầy tính chất gợi dục khá trơ trẻn, lại được giới thiệu như một “phát hiện” từ những nhà báo con buôn, là một ví dụ sinh động.

Điều này tạo ra một nhận thức lệch lạc trong cách đọc của giới trẻ, bởi chỉ nói riêng về sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam, dù phải tiết chế dưới chế độ kiểm duyệt, không ít các tác phẩm rất đáng đọc, nhưng trước sự thờ ơ của báo chí, của các nhà phê bình, các tác phẩm đó gần như bị trôi tuột đi. Còn với những tác phẩm văn học, những tác giả lớn của thế giới, hầu như không có tác phẩm thơ nào được dịch và in, thậm chí nữ văn sĩ Alice Munro, người Canada chuyên viết truyện ngắn, đoạt giải Nobel Văn chương 2013, một cái tên lẫy lừng như vậy nhưng chỉ trừ những người quan tâm đến văn học đích thực, phần lớn các bạn trẻ Việt Nam, ngay cả tầng lớp sinh viên, không biết bà là ai!

Điều đáng nói, Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ người đọc sách thấp đến kinh ngạc. Theo thống kê hiện nay trung bình 1 người Việt Nam đọc 3 cuốn sách 1 năm - trong đó có 2,3 cuốn là sách giáo khoa. Như vậy số lượng sách tự chọn chỉ chưa đến 0,7 cuốn/1 người/1năm, trong khi đó tại Thái Lan, con số này rơi vào khoảng 5 cuốn/1 người/1năm - không tính sách giáo khoa, tức người Thái đọc gấp khoảng gần 10 lần người Việt!

Ai cũng biết để đánh giá tri thức của một quốc gia, người ta sẽ nhìn vào nền giáo dục, xuất bản, báo chí, tỷ lệ đọc sách… của đất nước đó, về vấn đề này, thực tế cho thấy Việt Nam đang tụt hậu không chỉ với thế giới nói chung, mà tụt hậu cả với láng giềng cùng chung khối Đông Nam á.

Ở miền Nam trước đây, có một cái “phong trào” rất dễ thương của người trẻ. Hồi đó sinh viên và học sinh đều “cặp nách” một vài cuốn sách triết của Phạm Công Thiện, hoặc các tác giả “hiện sinh” lẫy lừng như Henry Miller, hoặc đọc tiểu thuyết của Erich Maria Remarque... Ai muốn đọc Quỳnh Dao hay Bà Tùng Long đều dấm dúi vì sợ quê. Còn ngày nay, thử nhìn vào một căn nhà trọ của các bạn nữ sinh viên ngữ văn, ở đó chắc chắn có cả chồng sách ngôn tình Trung Quốc, và hiện nay là các tập sách, thơ mang hơi hướm ngôn tình Việt.


Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...