Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

CON SẺ HÓT TIẾNG HỌA MI



Anh dỏng tai, hết sức chú ý lắng nghe. Rõ ràng là tiếng họa mi. Lần này thì không thể nhầm lẫn nữa. Thật nhẹ nhàng anh rời khỏi giường, len lén đi về phía cửa sau, tai vẫn hết sức lắng nghe tiếng “đi gió” đặc thù chỉ riêng loài chim hót  nổi tiếng này có được. Nép sau cánh cửa trên gác, anh nhìn về phía phát ra âm thanh ấy. Và đúng như anh nghi ngờ: trên một cây ăng ten truyền hình còn sót lại của nhà bên cạnh, “nó” đang đứng phồng cổ hót. Kỳ lạ thay, “nó” không phải là một con họa mi, nó chỉ là một con chim sẻ!

***

Anh đã có một thời mê chim hót như mê gái. Lúc đầu thích nghe tiếng chích chòe nên mua vài con “than” về nuôi. Sau đó muốn nghe giọng “suối reo, thác đổ” của rừng miền Đông anh lại mua thêm vài con “lửa” với những cái đuôi dài thậm thượt. Rồi khướu, rồi vành khuyên, sơn ca, yến hót… và cuối cùng dừng lại ở giống chim mà cả anh và những tay chơi kỳ cựu đều chung nhận xét: vua của các loài chim hót – họa mi!

Nói chung chơi chim, cũng như “chơi” những thứ khác, nó cũng có đầy đủ hỷ nộ ái ố của thú đam mê. Sáng sớm vọt xe đi mua cào cào, hửng nắng lên thì mang chim ra tắm, hốt cứt chim, tối trùm áo cho chim ngủ… thôi thì trăm thứ nhiêu khê khổ ải… chỉ  để nghe được giọng hót mê ly của các… chàng (các loài chim mái phần lớn không hót, họa mi thì càng không).



Mà quả thật tiếng hót họa mi vô cùng đặc biệt. Với những giống chim khác nuôi lâu ngày, ví dụ như chích chòe, bạn có thể biết trước được giai điệu, tiết tấu, âm vực… mà con chim đang và sẽ hót, với họa mi thì không. Họa mi có thể bất ngờ vút lên một chuỗi âm thanh lảnh lót, sau đó hạ xuống một nốt trầm như vực thẳm, rồi tiếng “đi gió” trong những trưa vắng như thầm thì, nỉ non, ru ngủ… Nếu có nhiều lồng chim để cách nhau một khoảng cách vừa phải, và không nhìn thấy nhau, các con chim sẽ đua nhau trổ tài, và lúc ấy dù có thể hai, ba hoặc nhiều con cùng hót nhưng đó không phải là những âm thanh trùng lặp, hổn loạn mà nó giống như một dàn nhạc đang hòa tấu một cách có chủ đích. Buổi sáng họa mi thường cất tiếng rất sớm, khi những tia sáng đầu ngày chưa hình thành. Còn với riêng anh, tiếng chim chiều mới là tiếng hót hay thăm thẳm. Những buổi chiều khi nắng đã dần phai, lúc đó ngồi một mình anh có thể hoàn toàn chìm đắm vào âm thanh của đàn chim trong lồng. Tiếng hót lúc đó da diết một cách tổn thương. Ôi, tiếng chim trong lồng! Những âm thanh hoang dã hay chỉ là ẩn ức, đè nén trong ngục tù vàng son thừa mứa. Vậy sao anh không thả cho chúng bay xa?

Thực ra không thể thả một con chim đã nuôi lâu đến có thể cất tiếng hót trong lồng bởi khi ấy chim đã hoàn toàn phụ thuộc vào chủ. Một con chim cảnh sổ lồng cũng đồng nghĩa với việc sẽ mất mạng vì đói khát hay làm mồi cho đám mèo hoang rình rập trên những nóc nhà thành phố. Nhưng rồi có một ngày anh đã ứa nước mắt thả gần hết đàn chim, trong đó có những con họa mi yêu nhất của mình. Anh nhớ hôm đó là một ngày chuyển mùa. Những cơn mưa cuối tháng tư bắt đầu xua tan cái ngột ngạt của những ngày nắng nóng phương nam. Anh chạy xe đi đâu đó qua những con đường ngập sắc đỏ của “cờ chiến thắng” trong một tâm trạng trống rỗng tuyệt vọng. Rồi anh dự tính ghé nhà một người bạn ở gần ga Sài Gòn, người bạn đó cũng là một bậc thầy về chim hót để mong giải tỏa bớt cái tâm trạng u uất của mình. Thế nhưng ngay lúc đó anh nghe cái điện thoại trong túi mình đổ chuông. Cẩn thận tấp xe vào lề, lấy điện thoại ra và nhìn thấy tên người gọi là vợ mình. Bật điện thoại anh nghe tiếng cô hốt hoảng: “Anh về mau, nguy rồi. Người ta đang tới bắt hết chim rồi anh ơi!”. Anh mau chóng hiểu ra mọi sự và quay đầu xe, phóng vùn vụt về nhà. Cả tuần nay báo chí nói về dịch cúm gia cầm và việc chính quyền thành phố sẽ tiêu hũy tất cả những vật nuôi có cánh trong khu vực nội đô. Nhưng anh và các bạn mình không nghĩ họ sẽ tiêu hũy cả chim cảnh vì không tin với điều kiện nuôi nhốt từng lồng riêng biệt và chăm sóc kỹ càng, chim cảnh có thể lây H5N1. Khi anh về đến nhà, anh đã thấy lố nhố trước sân có rất nhiều người đàn ông trong đó có cả công an khu vực. Anh quăng xe, lao vào trong sân và bàng hoàng nhìn thấy họ đã lấy rất nhiều lồng chim của mình xuống, đặt trên mặt sân và đang bắt một số chim ra. Bày ra trước mắt anh là một cảnh tượng kinh hoàng. Một cái bao loại 50kg đựng vôi bột mở sẵn, trong đó đã có một số con chim của anh bị bẻ cổ, bẻ cánh nằm giãy dụa. Gần như bất chấp sự đông đúc của những người xung quanh, anh lao tới những lồng chim vẫn còn xao xác tiếng chim hốt hoảng và giật tung cửa lồng, bẻ gãy các nang tre cho các cánh chim vút bay vào vùng tự do trước sự thảng thốt của đám người nhân danh thi hành công vụ….

Sau sự cố kinh hoàng ấy, anh buồn kinh khủng. Trong cái không khí hốt hoảng đầy huyễn tưởng của cả nước về một đại dịch kinh hoàng có khả năng xóa sổ hàng triệu người, anh cũng không chắc là hành động của mình hôm đó đúng hay sai nhưng bạn bè chơi chim của anh rất nhiều người đã phản ứng tương tự như vậy. Một tháng rồi vài tháng trôi qua, đại dịch đã không xảy ra. Người ta đã bắt đầu ăn thịt gia cầm trở lại. Những ai kịp đem giấu các lồng chim cảnh vào một nơi bí mật nào đó giờ không thấy chính quyền đả động gì nữa lại rụt rè mang ra để nghe chim hót. Chỉ có bầy chim của anh là hoàn toàn tuyệt tích. Những con chim đã chết thì không nói, những con được tháo củi sổ lồng cũng tuyệt mù không biết số phận ra sao bởi anh biết Sài Gòn không phải là vùng đất mà họa mi có thể sinh sống tự nhiên và sợ rằng những con chim kia đã làm mồi cho mèo hoang hoặc chết đói…

Thế nhưng một buổi sáng, đang ngồi một mình uống cà phê quán cóc đầu hẻm thì anh thấy vụt qua mắt mình một đôi cánh chao sát xuống vệ đường. Rồi một con chim lao xuống, đuổi theo con gián đang bò trên nắp cống. Anh gần như đứng bật dậy nhìn theo. Đó là một con họa mi nhưng cực kỳ xấu xí vì ốm đói. Khi con chim nhảy lò cò đuổi theo con gián, anh nhìn thấy rõ nó run rẩy trong cơn tuyệt vọng vì miếng mồi đang dần tuột khỏi tầm mắt. Con gián đã chui tọt vào ống cống!



Anh quan sát con chim. Nó đã hoàn toàn trụi lông, giờ đây đầu nó nhô ra một cái sọ tròn như viên bi ngà ngà trắng. Lông bụng cũng rụng gần hết kéo dài đến đùi làm đôi chân khẳng khiu của nó càng ốm yếu. Có vẻ như nó đang kiệt sức. Thế nhưng khi anh tiến lại gần, nó cảnh giác vỗ đôi cánh xác xơ, bay lên bụi sơ ri rậm rạp của nhà bên cạnh. Anh trả tiền cà phê, vào nhà lấy xe chạy nhanh qua nhà người bạn và mượn một cái lồng bẫy sau đó ghé Ngã Sáu mua một bịch cào cào. Anh biết con chim đang kiệt sức vì đói và nó sẽ không bay đi xa. Đúng như dự đoán, khi nhìn thấy những con cào cào mơn mởn treo trên cành sơ ri, con họa mi ốm đói lao vào và sập bẫy.

Những ngày sau đó, bằng tất cả kinh nghiệm nuôi chim của mình, anh cố gắng cứu mạng sống của nó. Cào cào non, sâu qui, gạo trứng… liên tục được bồi dưỡng và con chim cũng dần hồi sức. Khi mùa mưa dần qua, nó đã có thể mở miệng hót lên vài giai điệu. Anh nghe tiếng hót rất quen, như thể nó là một trong những con chim anh từng thả ra, nhưng cũng không chắc chắn là hoàn toàn đúng. Thế nhưng dù có bồi dưỡng toàn những món mồi béo bở cho chim, ngay cả chịu tốn tiền mua liu điu cho nó ăn hằng ngày, lông đầu và bụng của nó vẫn không thể mọc ra, thành ra có thể xem nó là một con họa mi cực kỳ xấu xí. Bù lại con chim càng ngày càng siêng hót và chừng ba tháng sau ngày nó được cứu sống và tiếp tục cuộc đời trong những nan lồng, nó bỗng dưng trở thành một con chim đặc biệt, khi mà bất kể lúc nào, trừ khi nó ngủ, hễ anh mở áo lồng ra là nó cất giọng. Mà cái giọng sau khi phục sinh này mới thật là độc đáo. Chỉ trừ khi nó nhấm nháp vài miếng mồi hay chút nước, còn tất cả thời gian hầu như nó dành để hót. Lên bỗng, xuống trầm, du dương, réo rắt. Đôi lúc như tiếng thét gào, có khi chỉ là những âm thanh thầm thỉ… Cứ vậy, tiếng hót cứ tuôn ra từ cái mỏ nhỏ kia tưởng chừng như suối chảy, giờ này qua giờ khác, liên tu bất tận làm kinh ngạc tất cả những người sành sỏi về thú chơi chim. Sợ con chim kiệt sức, anh chỉ có cách trùm kín áo lồng, đem treo vào nơi ít ánh sáng để nó ngỡ trời đã tối mà nằm im nhưng chỉ được vài bữa, ngay cả trong bóng tối nó vẫn cứ hót. Thật ra đôi khi đó không phải là tiếng hót, mà là những tiếng kêu gào lanh lảnh, như thể muốn thoát ra, tháo củi sổ lồng thêm một lần nữa hay là tiếng gọi đàn từ trong sâu thẳm của bóng đêm? Khi đó vợ anh cũng vừa sinh đứa con đầu lòng, nhà thì chật mà tiếng chim lại cứ lảnh lót làm đứa bé cứ giật mình thảng thốt. Anh đang làm việc tại một chi nhánh của một tờ tạp chí, ông sếp, là một nhà thơ cũng dễ tính và chỗ thân tình, nên khi anh ngỏ lời muốn mang con chim tới treo tại chỗ làm, sếp gật đầu, còn nói: “Có tiếng chim còn vui chứ sao”.

Đến nơi ở mới con chim ít hót vài ngày làm anh cũng mừng nhưng rồi một tuần sau mỗi khi mở áo lồng là nó lại líu lo suốt buổi. Tòa soạn cũng khá rộng, nhân sự lại ít vì chỉ là một tạp chí chuyên ngành nên cũng không có vấn đề gì, thậm chí tiếng chim còn làm vui hơn, như ông sếp nói, cho những tâm hồn đôi khi khô cằn vì sách.

Một hôm có một nhà thơ từ hải ngoại về ghé thăm sếp anh để bàn chuyện xin giấy phép in cho ông ta một tập thơ phát hành trong nước. Anh có đọc nhà thơ này và đây là một trong những thi tài mà anh ngưỡng mộ. Ông đã rất nổi tiếng từ trước năm 1975 và sau khi sống lưu vong tại hải ngoại vẫn tiếp tục bền bĩ viết và  cách tân thơ mình nên được rất nhiều bạn đọc mến mộ. Dĩ nhiên là anh rất vui khi được trực tiếp gặp gỡ và tiếp chuyện với một nhà thơ đã biết tiếng từ lâu. Ông sếp, anh và nhà thơ nói chuyện rất thân tình. Đó là một người đàn ông khá điềm đạm, ăn nói nhỏ nhẹ. Đang lúc đó thì con họa mi cất tiếng. Nó bắt đầu bằng một tràng lảnh lót, sau đó chuyển giọng kim rồi trầm giọng thổ. Chỉ một mình nó nhưng như thể có vài ba con cùng hót. Lồng chim treo ở hành lang khá gần nên làm khách chú ý. Nhà thơ dừng nói, im lặng lắng tai nghe. Con chim vẫn cứ mê mải hót, chắc nó không hề biết mình vừa cắt ngang một cuộc đàm luận thanh cao về tương lai của nền thi ca dân  tộc. Nhà thơ bỗng hỏi: “Tấn (tên sếp anh) nuôi con chim gì mà hót hay vậy?”. Sếp nhìn qua anh: “Dạ, chim của Bình nuôi, không phải của em”. Nhà thơ nhìn anh: “Hót hay quá, chim gì vậy Bình?”. “Dạ, là họa mi đó anh”. Anh trả lời nhà thơ, lòng hơi hụt hẩng chút xíu vì anh nhớ từng đọc một bài thơ của chính ông nói về tiếng chim họa mi. Hóa ra ông cũng chỉ là tưởng tượng chứ chưa nghe tiếng họa mi bao giờ. Chim vẫn hót, nhà thơ vẫn say sưa nghe, anh và sếp ngồi yên, không biết nói gì. Rồi nhà thơ bỗng đề nghị: “Hay là Bình mua giúp anh vài con như vậy, anh lén đem về Mỹ nuôi nghe nó hót chơi”. Anh suýt phì cười vì sự ngây thơ của nhà thơ. Đem một con chim hoang dã từ khu vực có cúm gia cầm về Mỹ. Có mà ở tù mục xương.

Sau chuyến thăm của nhà thơ một thời gian, một sáng thứ hai anh đến tòa soạn làm việc như thường lệ. Hôm đó anh được giao biên tập một cuốn sách nên mê mải làm đến gần trưa mới giật mình nhớ là không hề nghe tiếng chim quen thuộc. Khi anh vội vã ra hành lang, nhắc cái lồng xuống thì thấy con họa mi đã nằm cứng đơ trên tấm lót đáy lồng. Chắc nó chết từ đêm qua. Hai bên mép ứa máu đầy kiến bu…

***


Đã gần mười năm trôi qua. Giờ anh đã thôi làm việc tại chỗ cũ và cũng dời nhà ra một quận ngoại thành. Hai đứa con  ra đời, lớn lên, học hành… đã làm anh không còn thời gian cho thú chơi chim xa xỉ. Thỉnh thoảng đi ngang qua những tiệm bán chim cảnh, anh dùng dằng chạy xe thật chậm, tai vểnh lên còn lòng bồi hồi khi nghe những âm thanh quen thuộc. Nhưng cũng như tình yêu, có sâu đậm mấy lâu dần rồi cũng quên, anh không còn có ý muốn khi rảnh rổi lại mua chim về nuôi nữa, cho đến những buổi trưa vừa qua, khi lại nghe tiếng “đi gió” của loài chim một thời anh đắm say… Anh tưởng đó là một con họa mi sổng chuồng của ai nhưng cuối cùng phát hiện ra nó chỉ là một con chim nhại. Lại cũng như tình yêu văn chương, cái hay của thiên hạ không phải cái hay của mình khi lặp lại. Anh vung tay, liệng viên gạch vỡ. Con chim bay vụt đi. Anh chẳng còn tâm trạng tò mò cũng như hứng thú nghe nó hót nữa. Dù tiếng “đi gió” đó giống đến nỗi làm lòng anh cồn lên bao kỷ niệm nhưng đó chẳng qua chỉ là tiếng nhại giọng của một con chim sẻ…

(Trong tập KIỀU- NXB Sống- Hoa Kỳ 2014) 

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2014

KIẾP BÈO



Cách đây không lâu lắm thành phố C. còn có một nhánh sông cắt ngang. Dù chỉ là một nhánh phụ của con sông cái nhưng vì chảy ngang qua thị thành, nó đã trở thành một nơi chốn thần tiên cho cả tuổi thơ lẫn những đôi lứa đang kỳ hò hẹn. Dọc theo bờ sông mọc đầy cây bần là bãi tắm tuyệt vời nhất cho những đứa trẻ trong thành phố những buổi chiều. Sau đó, một vài người đến cất những căn nhà lá nhỏ ngay trên mặt sông để làm nơi sinh sống. Họ là những người nghèo khổ, tha phương cầu thực chớ không phải là dân bản địa và vì không tiền mua đất, họ phải làm liều dù ai cũng biết rằng khu đất ấy là đất công.
Thế nhưng, thành phố dần phát triển, đất hẹp người đông, nhu cầu về chỗ ở ngày một cao đã làm cho mỗi tấc đấc trở thành tấc vàng thật sự. Vậy là những cái đầu thực dụng nhìn thấy nhánh sông chảy băng qua thành phố cùng với bãi bờ của nó cả một diện tích rộng nếu được lấp đầy. Cũng không khó gì lắm để ra đời dự án thổi cát từ sông cái lên lấp nhánh sông “không cần thiết” tạo ra một mặt bằng rộng dùng cho việc lập chợ, kinh doanh. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau nhưng cũng không ai phản đối gì vì những người ngụ cư dọc theo hai bờ sông đều là dân sống bất hợp pháp. Tôi có một người bạn là kỹ sư xây dựng cũng được huy động vào đội ngũ tham gia công trình này.

* * *
Hưng kể, vì được chỉ đạo phải làm thật nhanh kể từ ngày có lịnh thi công, đội ngũ công nhân và kỹ sư gần như phải làm suốt ba ca. Có đêm, Hưng phải ngủ lại và một đêm kia, sau một chầu bia tối kéo dài tận khuya, anh thức dậy và thấy mình ngủ một mình trên võng buộc tạm vào lan can chiếc cầu mà họ dự tính sẽ giật sập trong tuần tới vì dòng sông bên dưới đang cạn dần.
 Chầu nhậu đã làm Hưng khát khô cổ và cảm thấy thèm thuốc nhưng trong túi không có sẵn hộp quẹt. Bỗng dưng Hưng nghe có tiềng thì thầm nho nhỏ như có ai đó đang trò chuyện. Anh dụi mắt, bước ra khỏi võng và vô cùng ngạc nhiên khi thấy nơi bến sông trước mặt, có một dãy ghe nhỏ che mui kín đang đậu. Từ những chiếc ghe nhỏ ấy, phát ra tiếng rì rầm và có cả ánh sáng yếu ớt của những chiếc đèn hột vịt. Dù rất ngạc nhiên vì nhánh sông ngoài kia đã gần như bị bít để thổi cát vào, những căn nhà dọc bờ sông đã giải tỏa và ghe xuồng không cách nào vào được đây nhưng không hiểu sao lúc ấy Hưng vẫn trỗi dậy, bước ra khỏi võng và đi lần xuống bến với ý nghĩ xin mồi thuốc.
Dưới bến có chừng năm bảy chiếc ghe đang neo đậu và hầu như tất cả đều chưa ngủ. Hưng bước tới chiếc ghe gần nhất và dưới ánh trăng anh nhìn thấy một ông cụ mặt bộ bà ba nâu, đầu chít khăn rằn đang ngồi đốt thuốc bên chiếc hỏa lò nhỏ le lói ánh than hồng. “Chào bác! Hưng cất tiếng”.
Ông cụ gật đầu đáp lại nhưng không hỏi gì với khách. Hưng bước đến gần hơn và nói: “Bác cho cháu mồi nhờ điếu thuốc... -Được, cậu cứ lên đây”. Ông già đã lên tiếng.
Hưng bước lên sạp phía mũi ghe, nói: “Cháu ngủ gần đây, nghe tiếng trò chuyện nên cháu mới...” “Được mà. Ngồi hút thuốc uống trà cho vui đi cậu. Gia đình chúng tôi cùng mấy bà con quanh đây sắp sửa dời đi nhưng còn đợi con nước”.
Rồi ông quay nhìn vô trong mui, lên tiếng: “Lục Bình, con đem thêm gói trà cho cha mời khách”.
Hưng hơi tò mò nhìn theo ánh mắt ông lão. Anh thấy bên trong khoang ghe được ngăn lại bằng một tấm màn vải kẻ ca rô mà người nhà quê ưa dùng. Từ trong ấy có một cô gái vén màn chui ra. Cô gái một tay cầm gói trà còn tay kia vén tóc lại cho gọn gàng và khẽ gật đầu chào khách. Hưng bàng hoàng. Dù ánh trăng không tỏ lắm nhưng anh cũng kịp nhận ra là cô gái quá đẹp. Bộ đồ bà ba màu xanh lá tuy rộng nhưng vẫn nhìn rõ một vóc dáng thanh thoát, rất ít gặp ở những cô gái con nhà thương hồ. Không hiểu sao Hưng lại chăm chú nhìn cô như vậy, thậm chí anh còn nhận thấy hình như gương mặt cô có một nét u buồn sâu kín. Khi cô lui vào trong khoang ghe, khuất sau tấm màn, Hưng nghe như có tiếng đối đáp nho nhỏ giữa cô gái cùng một người khác nữa.
Chiếc ấm trên hỏa lò bắt đầu sôi và ông lão nhắc ra, rót nước vào một chiếc ấm đất màu gan gà. Vẫn nghe thấy tiếng người thì thầm, Hưng đánh bạo hỏi: “Xóm ghe mình hôm nay thức khuya để dời đi đâu hả bác?
Mắt ông lão dường như tối lại: “Cả xóm đã bàn nhau nhưng chưa biết là sẽ đi đâu. Chúng tôi đã định cư đây bao đời rồi, giờ thật là khổ.”
Tiếng thì thầm trong khoang ghe bỗng chuyển thành tiếng nức nở, ông lão bảo Hưng: “Thôi, uống nước đi cháu. Chúng tôi cũng sắp sửa nhổ sào”.
Rồi ông quay vô, trầm giọng: “Chuẩn bị đi bà ơi. Ông hắng giọng, nói thêm. “Còn con Lục Bình, cha đã nói là phận mình bọt bèo thì mình đành phải chịu. Sao còn thương cảm hoài vậy!”
Không dằn lòng được nữa, Hưng hỏi: “Cô nhà có chuyện chi mà không vui vậy bác?” “À, Lục Bình là con gái út nhà tôi. Trước đây chúng tôi có hứa hôn với họ Hà. Thế nhưng gần đây không hiểu sao đất đai nhà cửa của dòng họ ấy bỗng bị mất sạch. Cha con ly tán, họ hàng thất lạc. Thằng con rể tương lai cũng bị vạ lây. Giờ đây, chúng tôi cũng phải ra đi. Chuyện nhơn duyên lỡ dở như vậy nên mấy ngày nay con Lục Bình nó khóc lóc hoài. Cả hai vợ chồng tôi khuyên can mấy cũng chưa nguôi”
Hưng rùng mình, uống vội ngụm nước rồi từ giã ông cụ. Khi anh bước lên bờ, dưới ánh trăng huyền hoặc, Hưng vẫn nhìn thấy cái thân hình nhỏ bé buồn bã của ông cụ in đậm trên nền của hàng cây và bên tai Hưng vẫn vang lên tiếng nức nở của người con gái...
Sáng hôm sau, Hưng giật mình tỉnh lại khi có người lay gọi. Anh bàng hoàng thấy mình nằm ngủ ngay trên thành cây cầu sắp sửa bị phá đi, cách xa chiếc võng của mình chừng mười mét. Anh chàng công nhân trẻ cười:
- Hồi đêm xỉn dữ hả anh Hưng? Về không tới võng mà...
Hưng ngồi dậy, anh tựa vào lan can cầu nhìn xuống dòng sông đang cạn. Dưới ấy, từng đám lục bình đang theo con nước đẩy đưa giạt dần về phía sông cái. Có một nhóm lục bình nhỏ còn vướng vào chân cầu vì nước đã cạn lắm. Hưng đi vòng xuống bến, gỡ cánh bèo và nhẹ nhàng đẩy nó ra xa, nhập vào đám lục bình lớn trước con mắt ngạc nhiên của người công nhân trẻ.
* * *
Chúng tôi ngồi bên nhau trong công viên bên bờ sông, trước mặt tôi những cánh bèo vẫn giạt từng đám trong cơn nước kiệt. Giọng Hưng bùi ngùi: “Sau đó mình xin chuyển công tác. Mình cảm thấy như có gì đó sai lầm, và như thể có lỗi với tuổi thơ của mình. Và còn một lý do nữa, đó là nỗi ám ảnh không nguôi về cái đêm nửa hư nửa thực ấy. Mình vẫn nhớ rất rõ cô gái ấy tên là Lục Bình, vẫn nhớ màu áo xanh cô ấy lay động dưới ánh trăng khi đem gói trà ra, và nhớ rất rõ ánh mắt buồn của ông cụ và cách nói chơn chất như người vùng quê cách đây cả vài chục năm. Nhớ tiếng nức nở của cô con gái cùng câu chuyện lạ lùng về dòng họ Hà bị xiêu tán, nó cũng giống như một lời cảnh tỉnh”.

Đêm đó khi chúng tôi trở về, Hưng chở tôi chạy ngang qua khu đô thị mới. Dòng sông xưa giờ đã mất tích. Chỗ chiếc cầu đá mà cách đây hai mươi năm chúng tôi còn thi nhau leo lên rồi nhảy ùm xuống dòng nước mát gần như không còn có thể nhận ra. Thay vào đó là những tiếng nhạc xập xình phát ra từ các quán cà phê mới đang thi nhau mở hết công suất.

(Trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục- đã xuất bản 2008 và tái bản 2014)

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Khát vọng làm báo tư nhân



Sau năm 1975, khi người cộng sản chiếm miền Nam, tất cả báo chí tư nhân đều bị cấm tiệt nhưng cái khát vọng tự mình làm một tờ báo thì chưa bao giờ bị tiêu diệt trong trái tim của những người yêu thích tự do. Và dù phải thỏa hiệp, lách luật, mua giấy phép..., tại Sài Gòn từ hơn vài chục năm nay, "báo" do tư nhân làm chủ vẫn xuất hiện, tất nhiên dưới danh nghĩa một "cơ quan chủ quản" là nhà xuất bản hay "ké" theo một pháp nhân của tờ báo nào đó.
Một trong những người làm báo tư nhân lách luật cự phách nhất Sài Gòn nay đã mất là ông Lâm Quốc Trung, ông Trung từng dám bán nhà mặt tiền về ở chung cư để lấy tiền mua lại một số “phụ trang” của các tờ báo từ Cà Mau đến Vũng Tàu, làm ra những tờ báo giải trí mang dấu ấn cá nhân ông. Còn ở mảng văn nghệ, từ những năm đầu thập niên 90 thế kỷ trước, khi tình hình xuất bản đã bớt bị kìm kẹp, rất nhiều người đã tự bỏ tiền túi để làm những “tờ báo” thuần túy văn nghệ, gần như không thu hồi vốn như Thời Văn (Nguyễn Đăng Trình), Gieo và Mở (nhiều người làm), Văn tuyển (Phạm Viêm Phương, Nguyễn Liên Châu- đến nay… vẫn còn ra lai rai) và vài anh em văn nghệ cũ, vẫn ra những tuyển tập văn chương, tự tìm bài, tự in, chỉ có phải mua giấy phép của các nhà xuất bản. In ra, phân phát nhau đọc, mua giúp nhau. Gần như không bán được và vì vậy bài in cũng không có nhuận bút bằng tiền, mà lấy bằng sách! (Các tuyển tập văn chương do tư nhân thực hiện đặc biệt chỉ có ở Sài Gòn, không có ở Hà Nội và bất kỳ nơi nào tại Việt Nam)
Có báo chí xuất bản tư nhân chưa hẳn đã là có tự do báo chí, nhưng thật đáng buồn, cho đến giờ dù thực tế đã chỉ ra rằng ngành xuất bản hiện đã bị tư nhân chi phối mạnh mẽ, rất nhiều tờ báo nhà nước vẫn tiếp tục bán giấy phép cho tư nhân ra các phụ trương để nuôi sống tờ báo chủ, nhưng nhà cầm quyền vẫn chưa dám cho phép báo chí, nhà xuất bản tư nhân ra đời, dù chịu sự kiểm duyệt.
Và vì vậy cái khát vọng tự mình bỏ tiền làm ra một tờ báo, sống chết cùng với nó vẫn chưa thành hiện thực, người có tâm làm ra những sản phẩm văn học vẫn chịu sự chi phối đầy bất trắc của các nhà xuất bản. Đã gần bốn mươi năm trôi qua từ khi tự do báo chí bị bóp nghẹt, những người có tâm, có tầm dần mệt mỏi, trong khi đó truyền thông thế giới đã đi những bước dài trong môi trường internet. Tại Việt Nam hiện nay, những tờ báo có hàm lượng thông tin, văn hóa và học thuật đã dần lép vế, biến thái để tồn tại hoặc nhường chỗ cho những “sân chơi” xô bồ, thô tục của những trang web được cấp phép nằm dưới sự khuynh loát của tư nhân, mà mục đích chính của những “ông chủ” này là tiền!
Ngành báo chí xuất bản Việt Nam chắc chắn sẽ càng suy đồi hơn trong tình trạng nửa nạc nửa mỡ bây giờ. Lối thoát duy nhất là chấp nhận báo chí xuất bản tư nhân và điều hành bằng hệ thống kiểm duyệt!



Hối lộ ... chân dài!



Trả lời câu hỏi Báo Người Lao Động về việc “ở Việt Nam liệu có hối lộ về tình dục không”, ông Nguyễn Doãn Khánh, Phó ban nội chính trung ương, khẳng định: “Chắc chắn có ở Việt Nam. Người ta đã có những truyện ngắn phản ánh thực trạng này rồi”. Hehe, các quan to Việt Nam thật là quan tâm đến văn chương, dùng cả văn chương để chứng minh cho lý luận của mình tại quốc hội!

Thực ra thì cái chuyện “hối lộ bằng tình” này đã có nguồn gốc từ xa xưa, có tại tất cả các nước trên thế giới, tại Việt Nam còn lộ liễu hơn, bây giờ họ mới nói “mấp mé” chắc là liên quan đến “chiến dịch đập ruồi đập bọ” gì đó, học ở anh ba tàu!

Ai cũng biết tính dục là nỗi ám ảnh lớn nhất với con người, nhất là đàn ông, bởi nó là bản năng để duy trì nòi giống. Không có tính dục, nhất định chúng ta không còn tồn tại ở cõi này. Có lẽ con người đã biết cách hối lộ này từ thời thượng cổ, những vụ án liên quan đến hối lộ tình dục dày đặc trong lịch sử, ở phương Đông việc Vương Doãn dùng Điêu Thuyền hay nhà Trần dùng Huyền Trân công chúa làm của "hối lộ" luôn là bài học lịch sử để lại nhiều suy nghiệm.

Chế độ càng độc tài, bưng bít thông tin thì việc hối lộ càng nảy nở tràn lan trên mọi lĩnh vực, trong đó có tình dục, thường thì dùng mỹ nữ hối lộ các quan chức hư hỏng. Tại Việt Nam, trước đây các báo từng đăng thông tin các chân dài, hoa hậu… tố “chúa đảo Tuần Châu” dùng thân xác họ để hối lộ cho các ông tai to mặt bự nhưng rồi vụ đó “chìm xuồng”, có lẽ do sức mạnh của nòng súng và kim tiền.

Vụ “mấp mé” của ông Khánh, Phó ban nội chính trung ương có thể là “màn dạo đầu” để sắp sửa bày biện cho dân tình biết thêm nhiều màn cụp lạc trong giới quan chức bẩn thỉu dù thật ra nó cũng là trò đánh nhau giữa các phe phái!

Người xưa nói “anh hùng còn không qua được ải mỹ nhân” huống chi tụi nó đếch phải anh hùng!

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Chuột!



Truyện ngắn

A sống trong một xóm nghèo thành phố. Ở đó có những căn nhà lụp xụp, những bãi rác tiếp cận với một dòng kinh nước đen, hai bên dòng kinh có nhiều cống rảnh và từ cái nơi hôi thối này, sinh sôi nảy nở hàng hàng lớp lớp loài gặm nhấm mà A rất ghét: loài chuột.

A tìm mọi cách trừ khử chúng. Anh nuôi mèo, đặt bẫy, đánh bả… nhưng không cách gì giết hết bọn chúng. Chúng quá đông và chúng đâm nhờn với cả con người. Đôi khi đang ngồi đọc sách, có những con chuột cống to như con chó con chạy ra, tung tăng cách A chừng ba mét, ngước nhìn anh như giễu cợt. Loại này đến mèo còn sợ. Khi A vung tay ném vào nó cái gì đó, nó mới chuồn êm vào ngách tường. Hết cách này đến cách khác, chuột vẫn cứ sinh sôi, đến nổi đã có lúc A muốn dọn nhà đi khỏi cái khu ổ chuột này, bởi anh nghĩ việc chống lại bọn chúng là vô ích.

Một đêm, ngủ gục bên bàn làm việc, A mơ thấy mình dắt tay đứa con gái bé nhỏ đi đến một vùng quê cằn cỗi. Hai cha con đều khát khô cổ. Rồi anh nhìn thấy một căn nhà không đóng cổng. Anh dắt con đi vào đó, dự định xin gáo nước. Bất ngờ có một con chó vàng xồ ra, tấn công hai cha con bằng những cú đớp. A đẩy đứa con gái ra sau lưng, chống cự với con chó để bảo vệ con. Nó lao đến, gặm được vào bắp chân A. Bằng tất cả sức lực của mình, A bóp cổ con chó rồi quăng nó ra xa, bắp chân anh có ba vết răng chó, rướm máu, nhưng cách A chừng hai mươi mét, con chó chết nhăn răng. Một bầy chuột chạy ra, hè nhau ăn thịt con chó vàng. Cũng ngay khi A mơ giấc mơ lạ lùng đó, có một con chuột đã bò vào, và gặm chân A. Có lẽ vì quá mệt mỏi và ngủ mê, A chỉ choàng tỉnh khi cảm thấy đau, con chuột phóng mình bỏ chạy, ngón chân cái của anh bị gặm tơi cả da và thịt, nó rướm máu và đau rát…

Chiều hôm sau, cứ ngẫm ngợi về giấc mơ, A rời nhà đi lang thang dọc theo dòng kinh đến cái đoạn mà chính quyền đang cải tạo nó. Những căn nhà bị giải tỏa đã rời đi, để lại những khoảng đất trống nham nhở mọc đầy cỏ dại và rác. Do giải tỏa, ngôi chùa cổ có kiến trúc theo kiểu Khơ me cũng bị đập tường và lộ ra. A từng đến ngôi chùa này, người địa phương gọi là chùa Miên, nơi đó tất cả sư sải đều là người dân tộc Khơ me. Có nhiều vị sư già, người Khơ me gọi là À cha hay sư cả. Trước mắt A, một sư cả đang ngồi trên nền đất, và anh cực kỳ kinh ngạc, khi vây quanh vị sư già có rất nhiều chuột, bởi ông đang cho chúng ăn.

Vị sư đó A đã vài lần tiếp chuyện. Ông tu theo Phật giáo nguyên thủy, một vị chân tu thông hiểu Đạo Pháp. Ổng chỉ sống bằng khất thực và thu nhận cúng dường từ đồng bào mình. A đến trước ông, chắp tay chào.

Vị sư nhận ra A, ông khẽ mỉm miệng cười, và cũng chắp tay chào lại. Đàn chuột thấy người lạ, bỏ chạy tán loạn, nhưng rồi lại mon men trở lại, giành nhau chí chóe những mẩu bánh mì, tranh nhau thò đầu vào thau sữa và một chiếc nia đựng cơm…

A ngồi xổm xuống gần ông, quan sát đàn chuột, thứ mà anh từng khinh ghét. Trong sự che chở của nhà sư, tuy chúng vẫn tranh ăn cùng nhau nhưng nhìn chúng không gian giảo như khi chúng đột nhập vào nhà anh, dù vậy chúng vẫn bốc ra một mùi hôi tởm lợm.

A dịch ra một chút, nói: “Bạch thầy, lòng từ bi của thầy quả là vô lượng. Nhưng với con, con chỉ muốn cho cái đám dơ bẩn này biến khỏi thế gian”

Sư cả cười móm mém vì không còn chiếc răng nào: “Mọi hữu tình đều cần xót thương, những của bố thí này là của nhân gian, các sư trong chùa dùng một phần, phần còn lại chia đều cho chúng sinh”.

Nhìn thấy A cố ghìm cơn mửa vì mùi chuột, sư phủi tay đứng dậy dẫn A lùi vào bên trong vườn chùa, nơi có một chiếc ghế đá. Ông nói: “Nhìn ánh mắt thí chủ, có thể biết thí chủ căm ghét loài chuột như kẻ thù. Nhưng người tu hành như sư thì không có kẻ thù”.

A nói: “Con đã giết nhiều chuột, dĩ nhiên theo cách nhìn của thầy là đã phạm giới sát sinh, nhưng quả là không thể giết hết bọn chúng và cũng không thể sống cùng bọn nó”

Sư cả nói: “Nhân quả vốn dĩ khó phân”
A hỏi: “Như vậy thầy cho rằng việc làm của con là vô ích?”
Sư cụ mỉm cười: “Không có bất kỳ việc làm nào trên đời này là không tạo quả. Nhưng nó có ích hay vô ích là từ tâm mà suy luận”

Rồi ông nhìn vào đám chuột đang say sưa ăn uống. Chúng có vẻ đã no nê nên không còn cắn nhau nữa. Ông lại nói: “Dù thí chủ giết hay không giết chuột, nhưng những chúng sinh tội nghiệp này có thể đang ăn bữa ăn cuối cùng của chúng”
“Thầy nói vậy nghĩa là sao?”.
Sư cả ngước nhìn bầu trời, rồi nhìn A: “Chuột không thể chết hết với những cách thông thường như của thí chủ. Chúng thường chết nhiều, có khi gần hết khi một cơn lũ lớn về đây. Lũ làm ngập tất cả ống cống trong khu vực, và chúng chết ngạt. Có hôm, sư mang sữa, bánh mì, cơm nguội ra đây nhưng không có con chuột nào đến ăn”

A ngẫm nghĩ lời sư, anh thấy ông nói rất đúng. Anh buột miệng: “Vậy chừng nào thì lũ đến?”. Cảm thấy mình vừa thất lễ, anh sửa lại: “Bạch thầy, chừng nào cơn lũ sẽ đến?”

Sư cả nhìn anh hiền từ, ông xoay người, đưa tay chỉ ra ngoài xa: “Giọng thí chủ đầy sát khí, thí chủ cứ nhìn lên bầu trời hôm nay, nó có vẻ rất bình yên, nhưng hãy hướng tầm mắt thấp xuống, ở phía kia, mây đen đang tụ, một cơn bão lũ đang đến, đúng, có thể đây là bữa ăn cuối cùng của chúng”.

A nhìn theo tay chỉ của sư cả. Anh chỉ nhìn thấy một chân trời mây xám. Sư nói: “Thí chủ rảnh chân xin mời vào trong chùa uống trà, sắc mặt thí chủ không tốt, gió chiều e có độc”.

Nhưng A cám ơn ông, xin lỗi vì đã quấy rầy rồi trở ra. Những con chuột no nê đã rời đi hết về phía miệng cống. Anh lại đi dọc bờ kinh, đến cái rào chắn rồi quay ngược về. Phía sau lưng A chân trời vẫn u ám nhưng tĩnh lặng.

10. 2014

Thứ Hai, 20 tháng 10, 2014

TRÒ CHƠI

 

Ở Sài Gòn, anh rất ngại đi đám cưới tại các nhà hàng. Với anh đó là nơi trưng bày thô thiển nhất về sự phù phiếm, thô tục, ồn ào và mất thời gian. Chính vì vậy, một khi có thể từ chối hay trốn tránh là anh làm ngay. Hoặc là anh “nhường” cho vợ, dù anh biết nàng đôi khi cũng rất miễn cưỡng.

Hôm nay là một buổi tối như vậy. Thế nhưng đứa con gái bé nhỏ của anh không thể đi theo mẹ vì còn quá bé. Nó vừa qua sinh nhật lần thứ ba. Và nó cũng không chịu ở nhà một khi mẹ ra đi. Vậy là anh đành chọn giải pháp đưa con đi chơi trong lúc nàng một thân một mình đi đến “cái chốn phù phiếm và thô tục” đó.

-          Con muốn đi đâu? Anh hỏi con bé khi đã đặt nó lên phía trước của yên xe máy.
-          Con thích đi thú nhún, với lại đi câu cá nữa!

Xe chạy ra khỏi hẻm hòa vào con đường lớn, hòa vào tiếng động  đinh tai nhức óc của muôn loại kèn xe, thế nhưng con bé lại rất phấn khích. Nó bi bô hát, có lẽ vui mừng vì được ba đưa đi chơi, một điều khá hiếm hoi. Cách nhà anh khoảng hơn cây số có một khu vui chơi và anh chạy xe đến đó. Đó là một công viên nhỏ, được chính quyền “trưng dụng” để cho người ta thuê làm dịch vụ phục vụ trẻ em bằng các trò chơi đơn giản, rẻ tiền. Khu vui chơi khá đông đúc, ồn ào. Một quầy bán vé hình lục giác nằm trên lối đi. Anh tấp xe vào bên hông, cạnh một chiếc ghế đá trống, khóa xe và vào mua cho con hai vé thú nhún và một vé “câu cá”.  Đặt con bé vào con thú có hình con công, cho “đồng tiền” vào máy, bấm nút, "con công" sẽ trồi lên, tụt xuống, lắc qua lắc lại.... Anh vừa canh chừng con vừa canh chừng xe và sau khi đi hết hai vòng “thú nhún” anh dắt con qua chỗ câu cá cũng gần đó. Trò chơi này khá đơn giản với một cái hồ bằng nhựa tròn, đường kính khoảng 1m5, trong chứa đầy nước và những con cá, tôm, cua… bằng nhựa. Mỗi đứa bé tham gia trò chơi sẽ được phát một cần câu cũng bằng nhựa, cuối dây câu có một thỏi nam châm và một cái rỗ. Khi quăng dây cây xuống nước, các thỏi nam châm này sẽ hút vào các thỏi nam châm gắn trên miệng cá và các bé sẽ nhấc nó lên, gỡ cá bỏ vào rỗ. Chỉ vậy thôi nhưng các cô cậu bé cỡ tuổi con anh, hoặc lớn hơn chút cũng rất hào hứng với cuộc chơi.

Thấy con đã an toàn ngồi chắc trên ghế câu, anh yên tâm bước lại gần ghế đá, lơ đãng ngắm nhìn xung quanh. Không xa chỗ anh là các trò chơi khác cũng khá nhộn nhịp. Một vòng đu quay, một vòng đua ngựa gỗ và xa hơn chút là trò xe lửa chạy trên đường ray sắt. Anh nhìn thấy khá đông những người “đồng cảnh ngộ” như mình. Trên một “toa tàu”, một người cha trẻ mặc áo màu sáng ngồi với một cậu con trai, phía sau là một thiếu phụ mặc áo khoác sẫm màu cùng với cô con gái. Bỗng anh nghe những tiếng sầm sập như tiếng chân chạy vội và nhìn ra xa hơn. Gần sát mép đường, ngoài khuôn viên của công viên nhỏ các người buôn bán bất hợp pháp trên lề đường đang gom hàng giấu vào đằng sau các bức tường thấp. Có lẽ họ vừa nhận tín hiệu sẽ có lực lượng công an trật tự sắp đến. Cả một lề đường dài bị lấn chiếm bán mũ bảo hiểm và các loại giấy kiếng dán xe, dán điện thoại di động… đã  nhanh chóng được dọn sạch…

Ngay lúc đó có một cô gái mặc áo công nhân màu xanh từ bên ngoài đi vào chăm chú nhìn anh. Hơi ngạc nhiên, anh ngước nhìn thì cô lãng đi. Cô gái còn khá trẻ, cỡ chừng 22, 23 tuổi, thân hình khá đầy đặn. Cô đến cách anh chừng 3m và ngồi xuống trên bậc thềm của bồn hoa. Một lát anh thấy cô lấy ra một chiếc điện thoại cũ và bắt đầu nhắn tin. Anh mỉm cười vì nghĩ chắc cô đang hẹn hò và đang nhắn cho bạn trai của mình. Cô ngồi quay lưng lại phía anh, mắt nhìn ra đường trông đợi…

Mấy phút sau điện thoại cô gái có tín hiệu tin nhắn mà âm thanh tút tút lớn đến nỗi anh nghe rất rõ. Cô gái đọc tin và nhoay nhoáy trả lới. Anh lại mỉm cười. Bỗng dưng anh nhớ đến một thời rất xa của mình, thời anh trên dưới 20 tuổi. Hồi đó làm gì có điện thoại di động khi mà điện thoại bàn cũng là của hiếm. Đôi khi muốn gặp nhau phải hẹn hò, chờ đợi khá là vất vả. Thế nhưng nó lãng mạn. Nhưng đã là tình yêu thì thời nào mà không lãng mạn? Cô công nhân trước mặt anh đang náo nức chờ một chàng trai đến đón, hẹn hò với chiếc điện thoại di động trên tay cũng lãng mạn có kém chi thế hệ anh thuở xưa?

Một người đàn ông trạc tuổi anh chạy một chiếc tay ga từ ngoài vào, mắt dáo dát tìm. Ông ta đi một mình, có lẽ ông ta đến đón vợ con đang chơi ở đây? Người đàn ông ấy dừng lại gần quầy vé và đưa tay vào túi quần móc ra chiếc điện thoại di động đời mới và bấm máy. Mấy giây sau anh nhìn thấy cô công nhân trẻ đang cầm máy của mình nhìn chăm chăm vào người đàn ông và tiến lại gần ông ta. Cô gái hỏi nhỏ, nhưng anh vẫn nghe:
-          Anh là anh Thịnh?
-          OK, em là Vy?

Cô gái khẽ khàng gật đầu. Người đàn ông đưa tay lấy chiếc mũ bảo hiểm cài sẵn trên móc xe, đưa cô gái. Ông ta hỏi, không cần thấp giọng:
-           Em đi chơi được bao lâu?

Anh nghe tiếng cô gái loáng thoáng: “Một giờ. Anh trả em nhiêu?”

N.Đ.B. (Trong tập KIỀU- NXB Sống Hoa Kỳ)


Lái Thiêu



Nơi đó chiều mưa ngày bão rớt
Tôi em, hai hồn lạnh tìm nhau
Quán vắng lá bay ngoài sân gạch
Uất một màu mây rụng phía cầu

Vòng tay vẫn ấm tình thuở nọ
Mắt đã buồn như một dải tang
Vẫn những ân cần âu yếm cũ
Mà sóng lòng tung bọt úa tàn

Nơi đó có cây cầu gỗ cũ
Những xóm làng xanh em đã mơ
Bàn tay bé nhỏ run trong áo
Mới đó mà xa đến mịt mờ!

Tìm nhau tìm nhau tìm nhau chi?
Trời mưa không phải lệ trên mi
Những hàng cây gãy trên đường vắng
Xóa giúp lòng anh những nốt si…

N.Đ.B.



Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...