Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Văn tế "cụ Rùa"!



Hỡi ôi, non nước đang sục sùng sôi
Sao đà tắc tử?
Nhớ khi xưa
Oai trấn Hồ Gươm
Danh lừng tứ xứ
Bọn giáo sư tiến sĩ sùng bái như cha
Lũ quan chức tôn xưng là cụ
Truyền hình quay tới quay lui khi trở gió trái trời
Báo chí giựt tít đùng đùng mỗi lần ta ngự
Rồi hút nước hồ ầm ầm
Làm dự án nghiên cứu
Có biết đâu:
Thân già mệt mỏi năm canh
Môi trường ô nhiễm mình đầy ghẻ lở
Xót thương thay
Bọn chúng lại thả xuống hồ toàn rùa Tàu khựa
Tai xanh tai đỏ giành hết thức ăn
Ta chậm chạp cá chạy mất tiêu
Rất nhiều tháng rỗng không bao tử
Vậy mới nên
Đói quá làm liều
Ăn cả xác thối sình mèo, chó!
Một ngày cuối đông
Thây nổi phềnh ruồi bu lủ khủ
Báo chí đăng lên rồi rút xuống
Ôi, đau lòng cho “cụ”!
Toàn dân Nam sẽ biết ơn
Nếu “cụ” lôi theo cả bầu đoàn thê tử
Cụ cứ yên tâm mà đi
Thế nào ngày mai lão “rùa học” cũng ra bờ hồ hụ hụ!
Ô hô ai tai
Kính cẩn cúng "cụ"!

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Bệnh viện



Một ngày làm khách nơi bệnh viện
Thấy phận mình chưa phải héo tàn
Những mắt trẻ thơ buồn hiển hiện
Những đời thiếu nữ đã vương mang
Có cô con gái dìu ông lão
Có cậu trai ngồi đợi mẹ già
Cả hai ra góc chùi nước mắt
Chắc lòng tan nát sợ chia xa
Hành lang đông đúc người đi lại
Những mặt đăm chiêu trước cửa phòng
Những phận quê nghèo lên phố thị
Áo quần nhàu nát nỗi long đong
Bác sĩ cho rất nhiều xét nghiệm
Hỏi mình “Tim loạn nhịp lâu chưa?”
Thưa rằng: “Loạn nhịp từ khi hiểu
Đất nước trong tay kẻ bạo tàn”!
4.1.2016

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015

Nhà văn Trang Thế Hy - Đắng và ngọt!

(Thethaovanhoa.vn) - Một chiều mưa hơn 5 năm trước, chúng tôi, gồm một số bạn bè bất ngờ ghé Bến Tre thăm ông, khi đó trước nhà ông vẫn còn một vườn ổi nhỏ, bên hông nhà là những liếp vườn, có rất nhiều dừa.



Phần lớn là người trẻ hơn ông rất nhiều, nhưng cũng quen thân, ông mang rượu vang, thuốc lá… đãi bạn trẻ và ngồi im lặng vấn thuốc, nghe chúng tôi hỏi, nói chuyện... đủ thứ trên đời. Một người bạn cầm theo cây ghi ta, xin phép “chú Tư Sâm” hát bài Quán bên đường của nhạc sĩ Phạm Duy. Ông lắng nghe, yêu cầu hát lại lần nữa, và mắt ông rớm lệ, như thể bài hát vừa khơi lên những hồi ức “Đắng và ngọt” (*) xa xưa, rất riêng tư nhưng nhiều đồng cảm cho ông, cho bạn bè ông.
Rồi ông chỉ bức chân dung của ông do họa sĩ Nguyễn Trung treo trên vách, hỏi chúng tôi: “Mấy đứa biết bức tranh tên là gì không?”, chúng tôi ngơ ngác, rõ ràng là tranh chân dung, tức nó mang tên “chân dung nhà văn Trang Thế Hy”, nhưng không, ông chậm rãi nói: “Bức tranh mang tên là Nỗi buồn”!
Chúng tôi lặng đi, nhìn vào mắt ông già khi đó đã 85 tuổi, nhìn vào bức tranh. Đúng vậy, đó là một “nỗi buồn”, nỗi buồn của người cầm bút Việt Nam, nỗi buồn thời cuộc, và nỗi buồn thâm trầm từ con người ấy, nhân cách ấy, nỗi buồn mà chúng ta đang đối diện!

Tạnh mưa, ông đứng dậy, bước ra phía vườn dừa, nơi có những liếp đất, bờ mương, ông đi “thăm” mấy cái lọp đặt để bắt tép. Không có nhiều lắm, chỉ vài con tép nhỏ nhảy loi nhoi, nhưng ông nói giọng vẫn vui: “Đến con nước cũng nhiều tép bạc lắm”.
Vài năm nay NXB Trẻ đã lần lượt tái bản nhiều tác phẩm của ông một cách trang trọng, nghe nói ông vui, cuộc đời ông như vậy cũng được đền bù, dù chắc không ai biết rằng, giữa đắng và ngọt điều gì nổi trội hơn, như lời bài hát mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ phổ từ thơ của ông: “Trước khi từ giã, hỏi nhau buồn hay là vui? Thì cứ hỏi ngay cuộc đời".
Theo tin từ bạn bè làm báo, vào lúc 0g50 ngày 8/12 trái tim của một nhân cách Nam bộ đã ngừng đập vĩnh viễn tại nhà riêng (Bến Tre) sau một thời gian kiệt sức do tuổi già. 
Nhà văn Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, sinh năm 1924 tại Hữu Định, Châu Thành (Bến Tre). Ông tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau 1954, ông ở lại Nam bộ hoạt động văn hóa.
Ông từng bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam năm 1962, sau đó ông thoát ly vào vùng kháng chiến... Ông viết khá nhiều truyện ngắn, thơ, và đã hoàn thành 2 cuốn tiểu thuyết nhưng do cuộc sống bấp bênh, nhiều dịch chuyển thời đó, các tác phẩm ông bị thất thoát khá nhiều. Theo thống kê chưa đầy đủ của gia đình thì ông có khoảng 65 truyện ngắn, khoảng 20 bài thơ và 2 tiểu thuyết (Hoa tình chỉ nở một lần, Nét buồn bạc mệnh).
Hiện nay nhà xuất bản Trẻ đã tái bản và phát hành nhiều tác phẩm của ông như: Nắng đẹp miền quê ngoại (1964), Anh Thơm râu rồng (Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu của Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam 1960 - 1965), Mưa ấm (tập truyện ngắn 1981), Người yêu và mùa thu (1981), Vết thương thứ mười ba (tập truyện 1989), Tiếng khóc và tiếng …
Là người sống chan hòa nhưng kín đáo, luôn giữ nhân cách kẻ sĩ trước cuộc đời, ông được người gọi là “người hiền Nam bộ”.

* Tên ban đầu của bài thơ, ký tên Minh Phẩm, Phạm Duy phổ nhạc thành Quán Bên Đường.
Nguyễn Đình Bổn

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

Hận Bắc phương



Ta hận sống trong thời tăm tối
Sau lưng họng súng với dùi cui
Bắc phương như một loài quái vật
Nỗi hận bầm gan chỉ ngậm cười
Ta hận bọn Tàu đi lố nhố
Bàn chân bẩn thỉu khắp đất mình
Miệng thối mồm tanh còn khạc nhổ
Xì xồ như một đám thần kinh
Ta hận chúng đem tàu chiến đến
Cướp biển cha ông tự ngàn đời
Ra tay giết chết đời ngư phủ
Biển đã bao lần máu thắm rơi
Ta hận chúng mang ngàn thuốc độc
Âm mưu thâm hiểm triệt giống nòi
Con dân nước Việt ngu hèn quá
Tham tiền rước giặc giẫm mồ cha
Ta hận sinh ra thời bạc nhược
Thường mơ sống lại thuở Lý Trần
Khắc trên da thịt nguyền “Sát Thát”
Chết để giữ gìn đất cha ông!
(viết khi đọc thông tin về ngư dân)

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

quên đi quên đi



ở quán cà phê đó em đã hôn anh
cánh cò bay vụt lên từ cụm lục bình
quên đi quên đi
những đám mây hình nấm
thành phố không có mù sương
chỉ còn mù khô ô nhiễm
ở quán cà phê đó em nắm tay anh
quên đi quên đi
biển ngoài kia đã mất
những cái chết oan từ trại giam
cây bút đầy bất lực
ở quán cà phê đó em nói thương anh
quên đi quên đi
những mùa giông bão cũ
ôm em trong tay
đợi một ngày lửa cháy
sông chảy dưới chân mình
lẻ loi con cá quẩy
muốn xoa dịu nỗi buồn
tặng anh mùa tuổi trẻ...

11.15

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Nhà văn Nguyễn Đình Bổn: Chuyện buồn về những cô gái 'mút mùa Lệ Thủy'

(Thethaovanhoa.vn) - Tập truyện dài Mút mùa Lệ Thủy (NXB Hội Nhà văn) vừa phát hành của Nguyễn Đình Bổn đề cập tới một chủ đề quen thuộc, nhưng ít người đưa vào văn chương: lấy chồng ngoại. Kết hợp cái nhìn báo chí (phi hư cấu) và văn chương (hư cấu), với ngôn ngữ dung dị, chân chất, Nguyễn Đình Bổn đã đem đến cho người đọc một hiện thức khó làm ngơ.
“Nhiều người đọc xong Mút mùa Lệ Thủy nói rằng đây là một tác phẩm quá buồn, nhưng chưa một ai cho rằng tôi bôi đen xã hội, bởi tôi luôn trung thành khi miêu tả và tái hiện cuộc sống”, Nguyễn Đình Bổn chia sẻ.
“Mút mùa Lệ Thủy”, vì sao?
“Tôi sống ở miền Tây gần 20 năm, ngay trung tâm đồng bằng, là rể của miền Tây. Vùng đất đó lớp người trung niên thường dùng cụm từ “mút mùa Lệ Thủy” như kiểu (chơi, nhậu, ra đi…) tới bến (tới cùng), không bỏ dở nửa chừng. Ví dụ như nói: “Ê, bữa nay nhậu mút mùa Lệ Thủy nha mậy”, có nghĩa là không say không về” - Nguyễn Đình Bổn cắt nghĩa.
Trong tập truyện của Nguyễn Đình Bổn, đây là câu cửa miệng của một nhân vật nam, có con gái gả cho Đài Loan. Và như rất nhiều cô gái khác tại vùng đất này, họ đã đi “mút mùa Lệ Thủy”, nghĩa là đi biền biệt, không hẹn ngày về, dù trong lòng họ không muốn đi. Hoặc đi nhưng không thể quay về.
Những cuộc hôn nhân đó, hầu như đều bắt nguồn từ đồng tiền, nói trắng là họ (gia đình và các cô gái) đều muốn “đổi đời” bằng cách ly hương, hoàn toàn thiếu vắng tình yêu. Cần biết rằng, không phải tất cả người miền Tây Nam bộ đều thích lấy chồng ngoại quốc. 
Nó chỉ nằm trong một bộ phận tầng lớp người nghèo, sống ở nông thôn. Do không có điều kiện học hành, lại thiếu thông tin, nên không biết và cũng không cần biết những gì đang chờ mình tại những đất nước xa lạ.
Bất đồng ngôn ngữ, văn hóa, và nhiều nhất là vỡ mộng vì tất nhiên những người đàn ông muốn lấy vợ Việt đều xuất thân từ những tầng lớp rất thấp. 
Về chuyện này chúng ta đều có thể đọc thấy trên báo, nhưng rất tiếc các cô gái đó không hề đọc báo!? Một bi kịch rất thật và thời sự, từ con người, cách nói cho đến bối cảnh, bởi đây đó vẫn còn nhiều xóm làng, cù lao muốn “đổi đời nhờ vào việc gả con gái cho người Đài Loan (Trung Quốc), và giờ đây là Hàn Quốc, Trung Quốc Đại lục... 

Đứng về phía phụ nữ
Trước đây, trong các tập truyện ngắn như Đuổi quỷ, Tân liêu trai, Giữa trần gian và địa ngục, Kiều, Phượng trắng…, vấn đề nữ giới đã được Nguyễn Đình Bổn theo đuổi, tô đậm; trong tập tạp bút sắp phát hànhĐàn bà, đàn ông, Facebook (NXB Hội Nhà văn), rõ ràng phụ nữ chiếm đến 30% tựa đề, riêng nội dung thì phải chiếm hơn 70% dung lượng.  
“Trong sáng tác cũng như trong đời sống, tôi là người tích cực bênh vực nữ quyền, luôn lên tiếng về bình đẳng giới, nhân vật của tôi phần lớn là phụ nữ, nhất là những phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt. Sau Mút mùa Lệ Thủy, tôi đang viết một tiểu thuyết, dù bối cảnh là Sài Gòn, nhưng nhiều chương cũng nằm trong đề tài này”, Nguyễn Đình Bổn cho biết.
Nguyễn Đình Bổn sinh năm 1962 tại Quảng Nam, nhưng sống thời thơ ấu ở Cam Ranh, sau năm 1975 xuôi vào đồng bằng sông Cửu Long gần 20 năm, anh cầm bút tại đây, hiện sống ở Sài Gòn.
“Tôi đã từng muốn cách tân trong cách viết của mình, đã thử nghiệm trong khá nhiều truyện ngắn nhưng cuối cùng tôi chọn hiện thực, bởi nó luôn đầy ắp, khốc liệt, hiện diện mọi nơi. Nó như một nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngòi bút, tạo cảm hứng sáng tạo”.
“Điều tôi mong muốn nhất sau mấy chục năm làm nghề là làm sao để có môi trường văn chương sôi động hơn; các nhà xuất bản cũng cần dũng cảm và thoáng hơn trong việc nhìn nhận tác phẩm so với thời cuộc. Làm sao để mỗi nhà văn khi đặt bút viết đừng tự biên tập mình, cứ để tác phẩm tuôn chảy đầy sức sống, như vậy mới hi vọng giữ được giá trị chân thật”, Nguyễn Đình Bổn thẳng thắn.
Văn Bảy
Thể thao & Văn hóa

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Bão Magic



Họ đang chơi trò “con thỏ” trên chiếc giường rộng 4x4m khi cơn bão Magic vượt qua cửa biển tràn vào thành phố. Thực ra Marilyn không thích mấy tư thế này, nàng thích trò “cưỡi ngựa” hơn. Vì chiều Thân nàng thỉnh thoảng “cho phép” chàng chơi trò con thỏ. Lần đầu tiên gặp nàng tại quán bar Lalan, cái đập vào mắt Thân là đôi mông tròn trịa, nảy nở của nàng. Ngay từ cái giây phút đầu tiên ấy, Thân đã nghĩ đến chuyện được ôm lấy nàng từ phía sau và làm chuyện ấy.

Khi chàng đạt được cái ao ước đó thì nàng cũng thố lộ ao ước của mình.  Nàng bảo mình chỉ muốn có một cái giường cực rộng, cở 4mx4m. Và vượt qua nhiều trở ngại, bằng một nỗi si mê cuồng dại và hai dòng máu có khí chất điên điên, căn nhà của họ cũng được xây lên. Nó được Tùng, một “họa sĩ thị giác”, bạn thân của Thân thiết kế, đương nhiên điểm nhấn là căn phòng ngủ thênh thang của họ, nơi có chiếc giường 4x4m.

Như  đêm nay, dù cơn “siêu bão” Magic có tràn về theo chu kỳ 101 năm thì trong căn nhà vững chải và trên chiếc giường to ngoại cở, chàng vẫn có thể yêu nàng như những con thỏ đang kỳ động dục.

Khi đã thỏa mãn, nàng cười khúc khích:
-          Em nghe nói các bậc đế vương đều nằm trên những chiếc giường rất rộng, ví dụ như bạo chúa Nero, Napoléon hay Mao Trạch Đông. Em chỉ ao ước được cùng anh trên chiếc giường như vậy. Em chỉ thấy thương anh chàng Bill…
-          Bill nào?
-          Bill Clinton… tiểu đế! Nàng lại cười hihi.
-          Sao vậy?
-          Vì nhà ông này chắc chỉ có 2 chiếc giường bé xíu. Một dành cho cô con gái và một cho cả hai ông bà. Khi Hillary nổi cơn thịnh nộ về vụ Monica thì chàng Bill phải ra  nằm ở sô pha ngoài phòng khách, hồi đó em đọc báo nói như vậy. Nghĩa là nếu cái giường của họ rộng cỡ 4x4m, thì em nghĩ ông ta chẳng cần nằm trên sô pha…

Thân giấu mặt sau gối mỉm cười. Chàng nhớ lại cái ngày mình xách valy về lại quê nhà sau hơn hai mươi năm ở nước ngoài, điều đầu tiên chàng cảm nhận là thành phố của tuổi thơ xưa giờ tràn ngập hàng Tàu mà ấn tượng nhất là những chiếc xe máy rẻ tiền phóng vù vù trên đường phố. Cũng chính vì cái ấn tượng đó mà lòng Thân buồn vô kể, đến nỗi sau khi về quê thăm người dì xong, chàng nghĩ chắc mình sẽ quay về Mỹ ngay lập tức, nếu như định mệnh không xui khiến cho chàng gặp Marilyn…

Quê Thân ở cặp sát với sông Hậu, gia đình chàng nổi tiếng giàu có từ đời này qua đời khác bằng nghề buôn bán gạo. Ba chàng kể, từ thời thuộc Pháp, ông nội Thân đã là tay buôn gạo cự phách trong vùng. Trước năm 1975, đội “ghe chài” chở gạo của cha Thân có chừng vài mươi chiếc và ba nhà máy xay xát lớn đặt tại ngoại ô thành phố Cần Thơ. Thời thế đổi thay, chỉ một thoáng chốc tất cả đều tan như những bọt nước trên sông… Từ năm 1976, với chủ trương “đánh tư sản mại bản” của chế độ cộng sản, gia sản nhà Thân bị tịch thu gần hết, chỉ còn lại mảnh vườn nhỏ của ông bà xưa để lại. Sống lây lất vài năm, cha chàng gom góp hết số vàng còn lại tìm cách vượt biên. Ông móc nối với một vài Hoa kiều ở Chợ Lớn và tin tưởng bỏ hết vốn vào cuộc chơi sinh tử. Thế nhưng ông đã bị một vố lừa cay đắng và hoàn toàn trắng tay. Sau lần đó ngoài căm thù cộng sản ông còn căm thù tất cả người Hoa mà ông gọi một cách khinh miệt là “bọn Chệch”. Nhưng với quyết tâm rời bỏ đất nước, giờ đây hoang tàn dưới tay người cộng sản vì chính sách “ngăn sông cấm chợ” , ông vẫn tìm mọi cách để vượt biên. Ông ra tận đảo Phú Quốc, bằng mọi cách có thể và cùng với những người chung một chí hướng, chấp nhận đóng một chiếc ghe nhỏ bằng gỗ tạp, sau đó chỉ mang một  mình Thân, đứa con trai út của ông theo. Từ Phú Quốc, nhờ có một người, nguyên sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa biết sử dụng hải bàn đi cùng, họ nhắm hướng Thái Lan ra khơi. Lần này may mắn đã đến. Chiếc ghe nhỏ bằng gỗ xoài, tưởng không thể cầm cự với những cơn sóng trung bình, lại gặp được một tàu hải quân kéo cờ Hoàng gia Anh cứu hộ và đưa thẳng vào hải phận Thái Lan. Tiếp theo đó là những ngày gian khổ, tủi nhục sống trong các trại tập trung dành cho người tị nạn trước khi Thân và cha mình được nhận vào Anh và sau đó sang Mỹ định cư…

-          Anh, hình như cơn bão này ghê lắm!

Tiếng Marilyn cắt ngang dòng hồi ức của Thân. Chàng quay người lại, nhìn lên tivi. Trên màn hình, ông chủ tịch thành phố mặc bộ vest đen, khuôn mặt u sầu đầy mụn của ông ta, cùng với bộ áo nghiêm trang trông như một bức chân dung kỳ quái. Ông chủ tịch chậm rải đọc một thông báo, rằng thì là toàn thể cư dân thành phố phải chuẩn bị tốt nhất để đối phó với “cơn bão thế kỷ” đồng thời kêu gọi mọi người nghiêm túc chấp hành lệnh sơ tán. Sau đó mục “dự báo thời tiết”, dẫn lời các chuyên gia về đường đi kỳ dị của cơn bão, đúng với cái tên Magic của nó. Họ cho rằng cơn “siêu bão” này chắc chắn sẽ gây ra những thảm họa khôn lường.

Thân cũng cảm nhận một điều gì đó đang tới. Nằm trong căn nhà kiên cố, họ vẫn nghe tiếng mưa đập ầm ầm ngoài kia. Thế nhưng lúc này Marilyn thì lại thấy thích thú, cô cho rằng mình đang sống trong một nơi vững vàng như pháo đài, một nơi mà bất kỳ tình huống thời tiết nào cũng không thể xâm hại.

Bản thân Thân cũng nghĩ vậy. Anh đã gần như dành hết số tiền mình kiếm được ở xứ người để phụng hiến cho tình yêu mê cuồng khi xây dựng căn nhà này. Họ đã thống nhất mua một lô đất rộng, đúng hơn là một đám ruộng có diện tích 20 x30m tận bên kia dòng sông để tiến hành xây dựng tổ ấm của mình. Không một cư dân địa phương, hay bất kỳ ai đi ngang qua mà không cảm thấy lạ lùng với căn nhà của họ. Nó được xây gần như vuông vức giữa khu đất sau khi đã san lấp xong. Nhìn lùi một chút, nó gần giống như một lăng mộ, và ngay cả cách bố trí các phòng bên trong cũng vậy. Thế nhưng chẳng hề gì, vì cả Thân và Marilyn đều thích khi nhìn bản vẽ phối cảnh căn nhà do họa sĩ Tùng thực hiện, chỉ trong một tuần sau khi được yêu cầu.   

Từ ngày gặp Thân, Marilyn đã bỏ làm tiếp viên rót rượu ở quán bar Lalan, thế nhưng nàng vẫn giữ cái tên “tây” của mình khi xưng hô và cả lấy nó làm bút danh khi viết truyện ngắn. Thân biết, cái nhìn dung tục đầu tiên đã kết nối họ nhưng chính mối dây nghệ thuật ràng buộc họ. Chàng là một họa sĩ, dù chỉ mới cách nay 2 năm, tại Mỹ, chàng là một tay làm nail chuyên nghiệp. Cũng như giờ nàng là một “nhà văn trẻ” dù trước khi gặp Thân nàng là gái rót rượu. Ở cái đất nước điên rồ này mọi chuyện đều có thể, ví như căn nhà của họ. Lúc đầu Thân nghĩ rằng sẽ chẳng ai cho phép chàng xây như vậy. Thế nhưng Tùng và Marilyn cười hehe vào mặt chàng, bảo rằng tiền giải quyết được mọi việc, dù Thân có muốn xây một cái Kim Tự tháp tại đây, vấn đề là chàng có đủ tiền để tống vào những cái mõm chó kia không. Và đúng vậy, sau khi thỏa thuận về giá cả chung chi và trả ngay một cách sòng phẳng, trong suốt thời gian thi công xây nhà, chẳng hề có một “lực lượng” nào dòm ngó, dù đây quả là một căn nhà có một không hai trong cái thành phố ngổn ngang này.

Marilyn liên tục bấm điều khiển chuyển kênh để tìm thông tin cập nhật về cơn bão. Nàng không sợ nhưng nàng thích thú với nó trong một cảm giác ích kỷ khi xác tín về thái độ an toàn tuyệt đối của mình. Nhờ yêu Thân, chấp nhận chung sống với chàng mà chỉ trong một thời gian ngắn nàng đã rời bỏ được cái nơi chốn đầy mùi rượu và mùi đàn ông, nhất là mùi chua chua, nồng nồng của bọn Tây sau khi nốc rượu cùng với những trò cấu véo thô bỉ của đám già dịch Châu á…

Marilyn cũng xuất thân từ miền đồng bằng phía tây, không xa nơi chôn nhau cắt rốn của Thân là mấy. Và cũng giống như rất nhiều cô gái miền tây, nàng đã rời quê hương, mong tìm một nơi chốn có thể đổi đời để tránh xa miền quê đầy những thằng con trai chưa lớn đã biết nhậu mà giải pháp đơn giản nhất là lấy chồng ngoại, cụ thể là lấy mấy lão già hay người tàn tật, thiểu năng trí tuệ của Đài Loan, Hàn Quốc…

Không như phần lớn những cô gái khác rất ít học, Marilyn đã học xong cấp ba và mơ ước vào trường Sân khấu Điện ảnh. Thế nhưng những bí bách của cuộc sống gia đình nghèo khổ đã đẩy nàng vào những tính toán giản đơn và bước hụt vào nhịp sống quay cuồng của rượu, gái, đàn ông và những tờ giấy bạc. Cho đến bây giờ, dù đã an tâm trong căn nhà vững vàng của họ, nỗi đau đớn về cái lần đầu tiên phải lên giường với một lão già Tàu vẫn cứ ám ảnh nàng. Biết Marilyn là gái trinh, lão ta bỏ ra gần 20 triệu để mua và trong suốt ba ngày nhốt nàng trong khách sạn, lão ta đã áp dụng mọi biện pháp từ đông tây kim cổ để thỏa mãn thú tính của mình. Và dù lão dùng mọi cách kích thích nàng, Marilyn không hưởng ứng vì quá sợ hãi, nhưng lão vẫn không thất vọng và tiếp tục nghĩ ra đủ trò quái đản, bệnh hoạn nhất…

Sau những đêm kinh hoàng ấy, đời Marilyn rẻ sang hướng khác. Nàng không còn muốn lấy chồng ngoại nữa mà theo một “chị gái” làm tiếp viên quán bar. Và cũng từ ngày ấy, một mối thù hận âm ỉ dần lớn trong lòng nàng đối với những người đàn ông Trung Hoa và nếu có cơ hội là nàng tìm cách để trả thù nhưng thật ra nàng chưa bao giờ có cơ hội bởi thường những khách Tàu đến quán khá kỹ tính và keo kiệt. Cho đến khi nàng gặp Thân…

Thông báo bão khẩn cấp! Theo tin từ Đài khí tượng thủy văn, bão Magic sau khi tiếp cận bờ biển đã bất ngờ ngoặc ra. Hiện sức gió đã đạt cấp 12, giật cấp 13. 14. Dự báo trong 2 giờ nữa, bão sẽ quay lại và đổ bộ trực tiếp vào trung tâm thành phố…

Marilyn bật âm thanh hết cở vì ngoài trời càng lúc mưa càng lớn. Trong đời của họ, chưa bao giờ chứng kiến một lượng mưa khủng khiếp như vậy. Thân nhổm dậy, đi tìm thuốc lá. Bỗng nhiên có tiếng đập cửa ầm ầm. Lúc đầu Thân tưởng là tiếng mưa nhưng sau đó tiếng đập cửa ngày càng lớn. Marilyn cũng đã nghe thấy, nàng nhìn Thân dò hỏi. Cửa nhà họ được trang bị bằng kính cường lực nên chắc chắn ai đó bên ngoài phải dùng sức rất mạnh. Nhưng là ai? Vì sao phải đến tìm họ trong cơn mưa bão điên cuồng này?

-          Anh, mở cửa không, em sợ?!
-          Không được, lỡ người xấu thì sao?

Nỗi sợ của họ là có căn cứ vì sau khi xây căn nhà này, chắc chắn tiếng đồn lan rộng rằng vợ chồng họ cực kỳ giàu có, chàng lại là một Việt kiều Mỹ. Và biết đâu lợi dụng đêm tối mưa gió này, bọn cướp tìm đến thì sao?

Bỗng nhiên gió ngừng thổi, mưa có phần ngớt hạt. Và ngay lúc đó kèm với tiếng đập cửa là tiếng quát: “Công an khu vực đây. Mở cửa, kiểm tra hộ khẩu!”.
-          Trời ơi, sao họ lại kiểm tra vào lúc cái thời tiết quái quỉ này hả trời! Tiếng của Marilyn rền rĩ dù nàng biết ở trên đất nước này, khi công an được xem là thanh kiếm bảo vệ chế độ thì họ có quyền hành xử bất cứ như thế nào, ở đâu và lúc nào.

Giờ thì chính Thân là người đưa mắt dò hỏi nàng. Khuôn mặt Marilyn thoáng nét sợ hãi nhưng nàng khẻ gật đầu. Trong hoàn cảnh đó, cả hai đều biết không thể còn con đường nào khác.

Thân khoác thêm một chiếc áo, bước dần về phía cánh cửa trong lúc Marilyn cũng đã mặc áo khoác dài vào người. Chàng cẩn thận xoay tay nắm, mở chốt. Cửa bật ra vì có lực xô từ bên ngoài. Một đám chừng năm, sáu người lố nhố xô vào kèm theo nước mưa và gió mạnh. Tất cả đều là đàn ông. Tất cả đều khoác áo mưa màu tối. Không ai mặc sắc phục.

-          Chúng tôi cần kiểm tra hộ khẩu! Một người lên tiếng.
-          Các anh là ai? Tôi cần biết! Thân hỏi lại.
-          Anh không cần biết, anh chỉ việc chấp hành!

Marilyn đã bước tới. Nàng nhỏ nhẹ:
-          Thưa các anh, tụi em mới về đây. Chưa có hộ khẩu. Chỉ có giấy tạm trú!
-          Cái gì cũng được, đưa ra đây!
-          Dạ, mời các anh ngồi!

Nhưng họ vẫn đứng. Marilyn vội vàng chạy vào trong, lấy cuốn sổ tạm trú mà họ được cấp sau khi tốn năm trăm ngàn và đưa cho người đàn ông duy nhất lên tiếng từ đầu đến giờ. Anh ta liếc sơ, trả lại rồi quay qua Thân:
-          Anh là Việt kiều Mỹ?
-          Dạ!
-          Tôi cần xem hộ chiếu!

Thân định cự lại nhưng gặp ánh mắt của Marilyn chàng hiểu ngay không còn cách nào khác, chàng nói: “Dạ các anh đợi chút”.

Thân bước vào phòng trong, lấy hộ chiếu, nhét tờ 100 đô-la vào và bước ra. Cầm tấm hộ chiếu, người đàn ông lúc nảy phớt lờ tờ tiền mệnh giá lớn đó mà chỉ săm soi nhìn tấm ảnh và lại nhìn Thân.

-          Anh là Lê Hoàng Thân!
-          Dạ!
-          Anh ở đây bao lâu rồi?
-          Dạ, khoảng 5 tháng, từ tháng 6.
-          Anh có nhớ tháng 12 năm ngoái làm gì không?
-          Dạ…
-          Thôi được! Trả lại anh!

Người đàn ông đó đưa trả Thân cuốn hộ chiếu. Tờ giấy 100$ vẫn còn. Họ rút lui! Ngay lúc đó mưa ầm ầm kéo đến và gió đập mạnh vào cánh cửa làm tất cả vật dụng nhẹ trong nhà đều bay loạn xạ.

-          Hú vía! Marilyn đưa cả hai bàn tay vuốt ngực. Thân dùng hết sức đóng cửa lại. Hai người im lặng quay về chiếc giường mênh mông của mình. Khi nép vào lòng Thân, tự dưng Marilyn thấy cái giường rộng quá. Thấy những mơ ước ngày nào bỗng phù du thật sự trước một linh cảm tàn nhẫn. Nàng nói nhỏ: “Em sợ quá!”. Thân choàng tay ôm nàng. Anh cũng mơ hồ thấy một điều gì đó bất trắc đang đến. “Anh có nhớ tháng 12 năm ngoái anh làm gì không?”. Câu hỏi đó như một âm thanh đồng vọng trong lòng họ.

Tháng 12?

Đó là những ngày họ đang bắt đầu mê nhau. Sức cuốn hút vì sự tương hợp tình dục đã làm tình yêu thăng hoa. Thân và cả Marilyn như chưa bao giờ thấy người mình yêu đẹp và hấp dẫn như vậy. Những khách sạn trở thành quen thuộc và những đắm đuối chìm vào nhau liên tục cũng không làm cho cả hai mệt mỏi. Với Thân, Marilyn có thể buông thả hoàn toàn bản thân và đạt đến đỉnh cao nhiều lần trong một cuộc vui. Sau những lần như vậy, họ thường dẫn nhau đi ăn ở những quán vỉa hè. Thân không thể đi xe gắn máy, còn Marilyn chạy xe máy hơi yếu nên chàng không đồng ý để nàng chở, và họ thường chọn những chiếc xích lô, Marilyn ngồi trong lòng Thân và cùng nhau lang thang đây đó. Thân cũng không cao lớn lắm, Marilyn cũng thanh mảnh, nên hai người trên một chiếc xích lô cũng nặng bằng một bà đầm đi du lịch mà thôi!

Buổi sáng đó họ hẹn nhau đi ăn và sau đó nhờ bác xích lô chở xuôi ra ngoại ô nơi có những quán cà phê cạnh bờ sông rất nên thơ và mát mẻ. Vừa tới một ngã tư thì cả Thân và Marilyn, có lẽ cả người đạp xích lô đều tròn mắt ngạc nhiên khi thấy một đám đông, phần lớn là sinh viên đang tụ tập nhau bên một lề đường hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Trung quốc, Hoàng sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Ngay lúc đó Thân nghe ai gọi tên mình. Nhìn vào đám đông chàng còn ngạc nhiên hơn nữa khi thấy đó là Tùng, bạn thân. Thân bảo Marilyn: “Vụ gì vui quá đây! Mình xuống tham gia đi em”. Marilyn nhanh chóng hưởng ứng. Họ bảo bác xích lô tấp xe vô lề và trả tiền. Người xích lô già ái ngại: “Hình như là biểu tình. Cô cậu tham gia coi chừng rắc rối nghen!”. Thế nhưng ngay lúc đó Tùng đã chạy tới, một tay nắm tay Thân, tay kia nắm tay Marilyn: “Vô đây, vô đây! Vui lắm, vui lắm!”.

-          Chống Tàu hả? Thân hỏi.
-          Ừ, chống Tàu!
-          Ba tao ghét bọn Tàu. Tao ghét bọn Tàu!
-          Em cũng vậy!

Vậy là họ nhanh chóng đứng vào hàng ngủ những người biểu tình tự phát đó. Một lá cờ Trung Quốc được đem ra, trải trên nền đất và ngay lập tức nhiều người nhảy vào, giày xéo lên một cách thỏa mãn. Rất nhiều công an mặc sắc phục và công an chìm mặc thường phục đứng xung quanh họ nhưng đông nhất vẫn là những người tuổi trẻ và một số là trung niên. Đứng ở hàng đầu có một người thanh niên mặc áo đỏ, tay cầm loa. Bên cạnh anh ta là một phụ nữ khá xinh đẹp với trang phục sang trọng. Tùng nói như hét vào tai Thân: “Những người đứng đầu đó, họ là những văn nghệ sĩ dũng cảm và yêu nước. Đã đảo Trung Quốc xâm lược”

***
Điện tắt phụp. Căn nhà chìm trong bóng tối. Thân bật hộp quẹt cho Marilyn đốt mấy ngọn nến mà nàng đã chuẩn bị sẵn. Chiếc kim giờ trên đồng hồ đã vượt qua con số 2. Thế như ng cả hai vẫn có cảm giác cơn bão không đi qua mà đang quần đảo trên ngôi nhà của họ. Thật ra gió đã giảm, nhưng mưa càng lúc càng lớn. “Để anh đi chạy máy đèn” Thân nói. “Có cần thiết không anh? Hay mình ngủ đi”. Giọng Marilyn đượm vẻ lo lắng. Thân cũng nghe một nỗi bất an dần thấm vào mình. “Mưa lớn quá! Nước bắt đầu tràn vào đó em. Anh nghe tiếng sóng vỗ. Ừ, thôi mình ngủ đi”.

-          Phải họ nói về ngày mình tham gia biểu tình không anh?
-          Anh nghĩ chắc là vậy. Chỉ không hiểu sao lại đến hỏi ngay trong thời tiết bão lụt này?
-          Chúng ta đã làm gì sai sao? Em cảm thấy rất sợ!

Thân vòng tay ôm vợ. Giờ thì họ biết sẽ không ai có thể ngủ được. Cái ngày hôm đó khi cả hai hòa vào trong đám đông biểu tình chỉ vì một cơn hứng khởi đột xuất chắc không ai nghĩ sẽ có đêm hôm nay…Và dù căn nhà họ được xây trên một nền móng khá cao nên chắc không phải lo lắng nhưng một linh cảm xấu cứ đeo đuổi họ. Thật ra ngày hôm đó cuộc biểu tình tự phát cũng chỉ kéo dài tới trưa. La hét đả đảo một hồi thì công an vây kín bốn ngã đường, các loại xe không thể lưu thông vào khu vực sứ quán Trung Quốc. Họ cũng thấy mệt và chán và rồi họ chia tay mấy người bạn, đi bộ ra khỏi các hàng rào cảnh sát và kêu một chiếc xích lô tiếp tục cuộc hành trình lãng mạn không cần biết đám đông tiếp tục ra sao…

Marilyn bật đài FM từ điện thoại di động của nàng để dò tìm bản tin. Cả hai lặng người nghe thông báo “tình trạng thảm họa khẩn cấp” vì dù bão vừa tan nhưng mưa lại đang ào ạt đến và đã làm ngập 2/3 thành phố. Cũng theo thông báo này thì chính quyền buộc phải cắt điện để không gây nguy hiểm. Tất cả các ngã đường vào thành phố đều ngập sâu, giao thông hoàn toàn tê liệt, sân bay đóng cửa vì nước đang tiến vào nhà ga chính. Rất nhiều căn nhà đã sụp và số thương vong chưa thống kê nhưng chắc không phải ít.

Đồng hồ trên điện thoại cho biết đã gần 5 giờ sáng. Bên ngoài trời đã hé những ánh sang mỏng manh và cơn mưa lớn đã dần ngớt. “Để anh ra ngoài coi thử chuyện gì đã xảy ra” – Thân nói.

-          Em đi với anh! Marilyn thầm thì. Chàng không phản đối và họ cùng ngồi dậy, xuống giường, nắm tay nhau bước về phía cửa.

Khi Thân mở cửa ra, cả hai nhìn thấy nước đã tràn lên hàng hiên. Bên ngoài trời chỉ mới sáng lờ mờ. Mưa đã ngớt và ngoài tếng sóng thì không gian hoàn toàn yên tĩnh. Thân nhìn ra xa, chỉ thấy một màu nước đùng đục trắng. Các căn nhà ở gần nhà họ nhất cũng đều ngập sâu. Hình như tất cả đã đi sơ tán, trừ gia đình chàng. Bỗng nhiên có tiếng động cơ nổ rầm rì rồi những vệt sáng đàn pin lóe lên từ phía trước đó là con đường, giờ đã ngập không còn dấu vết. Một chiếc ghe cỡ trung bình hiện dần ra trước mắt họ. Trên ghe lố nhố một đám người và khi chiếc ghe đi dần vào tầm mắt hai vợ chồng Thân nhìn thấy những người trên ghe đang quăng xuống nước những vật gì đó khá nặng trong khi ghe vẫn chạy chầm chậm về phía căn nhà của họ. Bất giác Thân tái mặt. Chàng vừa nhìn thấy họ quăng những xác người xuống nước. Chàng vội nắm chặt tay vợ, lôi vào nhà. Marilyn cũng đã nhìn thấy cảnh tượng kinh hoàng ấy, nàng run lập cập:

-          Thật khủng khiếp! Em chưa bao giờ chứng kiến một điều gì như đêm nay! Đóng cửa lại đi anh!
-          Anh cảm thấy bất an sao đó. Hay chúng ta rời khỏi đây?
-          Rời khỏi đây? Bằng cách nào hả anh? Giọng Marilyn run rẩy.
-          Anh chưa biết, nhưng chúng ta phải trốn!
Thế nhưng ngay lúc đó tiếng ghe máy đã ầm ĩ vang lên trước nhà rồi có tiếng va chạm. Là dân miền sông nước từ nhỏ nên Thân hiểu đó là tiếng mũi ghe đụng vào hàng hiên nhà mình. Chàng rùng mình, nắm chặt tay vợ.

Nhiều bước chân người nhảy lên nghe khá nặng nề và sau đó là tiếng đập cửa rồi một giọng trầm quen thuộc vang lên: “Hai người ra khỏi nhà. Lập tức nghe lệnh tôi!” Đó là tiếng người đàn ông, có vẻ là chỉ huy khi kiểm tra hộ khẩu buổi tối.

-          Giờ làm sao hả anh? Giọng Marilyn rền rĩ.
Thân cảm thấy không khí như đặc quánh quanh mình. Chàng nhìn về phía sau nhà nơi bóng tối vẫn còn ngự trị. Chàng hiểu họ không còn lối thoát và giờ chỉ là chờ sự may rủi của số phận.

Ngay lúc đó cánh cửa bật mở. Có lẽ vì mất bình tĩnh Thân đã cài chốt bên trong không chặt. Năm sáu bóng đen lố nhố xô vào và nhiều ánh đèn pin rọi thẳng vào mặt họ. Cũng là cái giọng nói quen: “Mời hai người xuống ghe!”.

-          Bắt chúng tôi? Vì lý do gì? Gần như cả hai vợ chồng đều kêu lên như vậy.
-          Lý do gì thì các người sẽ biết! Đi thôi!
Sau câu nói ấy ngay lập tức cả hai đã bị khống chế. Thân muốn chống cự nhưng chàng cảm thấy một nòng súng lạnh lẽo kề sát bên sườn. Chàng bất lực nhìn vợ một cách tuyệt vọng. Đôi mắt Marilyn cũng đỏ hoe.

Cả hai bị xô đẩy thô bạo hướng về phía chiếc ghe nhưng Thân sựng lại. Chàng vừa nhìn thấy trong lòng ghe còn có mấy xác người. Thân nhào đến bên vợ, nắm chặt tay nàng, hướng mắt về phía kẻ mà chàng cho là chỉ huy, hỏi:   

-          Các ông đã giết tất cả những người đó? Vì sao?
-          Ai nói chúng tôi giết? Chính cơn bão này giết họ. Ừ, phần lớn họ đã chết. Hai người đây chắc là những người cuối cùng! Không muốn xuống ghe chứ gì? Vậy chúng tôi sẽ thi hành ngay tại đây!

Cả đám thanh niên mặc áo xanh nhào đến dùng dùi cui đánh tới tấp vào Thân và Marilyn. Cả hai gần như nhanh chóng bị tách rời nhau. Ý thức về một tai họa đang giáng xuống nàng gào thét điên dại, cố vùng vẫy, chống cự nhưng không thể làm gì được với lũ đầu gấu hung tợn. Theo lệnh người đàn ông chỉ huy, ba thằng lôi Marilyn khỏi thềm nhà ra đám ruộng giờ đã là biển nước sâu. Chúng dìm đầu nàng xuống mặc cho cơ thể mảnh dẻ đó giãy giụa một cách tuyệt vọng và chỉ sau mấy phút chỉ còn những cơn co giật mong manh. Trong gọng kềm của hai tay đàn ông lực lưỡng, nước mắt Thân trào ra nhìn cảnh vợ mình bị giết một cách phi lý. Bằng một sức mạnh khó tin trong cơn tuyệt vọng, Thân bất ngờ vùng ra và nhảy xuống nước, vừa gào vừa bơi đến bên xác vợ. Chàng lao tới một tên áo xanh và trước sự bất ngờ của hắn hai bàn tay Thân chộp trúng ngay yết hầu tên này và ra sức bóp mạnh. Bị tấn công bất ngờ tay thanh niên này ngã nhào xuống nước, Thân vẫn lao theo, quyết không buông tay. Những người đàn ông gần đó nhanh chóng lôi Thân lên, bẻ ngoặt tay chàng. Một tên móc súng ra kề ngay thái dương Thân.   

Người đàn ông chỉ huy la lên: “Không được bắn! Hãy cho tụi nó chết như là những nạn nhân của bão lụt!”

Một chiếc dùi cui vung lên nhắm thẳng vào mặt Thân, thêm một đòn kết liễu lạnh lùng sau gáy. Chàng chìm sâu xuống biển nước cách xác Marilyn chừng hai mét.

Vậy là họ đã chết khi vừa kịp hiểu vì sao, bên ngoài căn nhà xây dựng như lăng mộ của chính mình!

Tháng 3 -6 – 2012.
N. Đ.B.


Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...