Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

Nhớ xe lôi

Nhớ… xe lôi
Tạp bút



Nhớ… xe lôi
Tạp bút

Vài ba năm trước, tôi cùng nhạc sĩ Tuấn Khanh và nhà thơ Trần Tiến Dũng về Cần Thơ chơi, Cần Thơ khi đó đã là một thành phố nhộn nhịp, các hãng taxi đang phát triển rầm rộ và chỉ cần một cuộc gọi là ít phút sau xe đã sẵn sàng… Ngồi trong xe máy lạnh, nệm êm, an toàn nhưng trong lòng tôi vẫn không thấy vui mà cứ nhớ hoài về một phương tiện giao thông cũ giờ đà mất dấu: xe lôi! May làm sao, buổi tối khi đang ngồi cà phê cóc trước khách sạn, chờ đến giờ hẹn cà phê với một cô gái xinh đẹp Cần Thơ, chúng tôi mừng rơn khi nhìn thấy một chiếc xe lôi từ hướng Bình Thủy chạy về. “Ê, xe lôi, xe lôi!”. Tôi đã kêu lên như vậy, một tiếng kêu xe mừng rỡ như thể đứa bé mừng mẹ đi xa trở về. Đêm hôm đó, ba người chúng tôi đã ngồi trên một chuyến “xe lôi chui” để vi vu với giá cả khá rẻ so với taxi, mà lại cực kỳ vui vẻ vì cảm giác thân thiện, hòa nhập vào không khí yên bình của một thành phố đồng bằng, chỉ có khuôn mặt của anh tài xế vẫn đầy nét lo âu vì vừa chạy xe vừa canh chừng cảnh sát giao thông, bởi từ giữa năm 2007, chính quyền đã khai tử loại xe này bằng một lệnh cấm!

Trước năm 2007, xe lôi là phương tiện giao thông, chuyên chở phổ biến nhất vùng đồng bằng miền Tây (trừ thành phố Mỹ Tho dùng xe xích lô như Sài Gòn).

Theo một số nghiên cứu, tại “lục tỉnh” xe lôi xuất hiện bắt nguồn từ những chiếc xe lôi (kéo) tay thời người Pháp bắt đầu xây dựng Nam kỳ, nghĩa là cũng có lịch sử cả trăm năm cải tiến. Đến những thập niên 1950-1960 đă xuất hiện xe lôi máy từ loại xe Mobylette của Pháp, sau đó là các loại xe của Nhật như Honda, Suzuki, Yamaha bởi đầu kéo mạnh, bền nên được ưa chuộng, và đứng đầu là loại Honda 67, sử dụng rộng rãi.

Dù vậy, ở miền tây, mỗi một tỉnh xe lôi lại có những dáng vẻ tương đối khác nhau. Xe lôi ở Cần Thơ có mui che khi cần có thể xếp lại được, còn xe lôi Sóc Trăng có dạng như xe thổ mộ của Sài Gòn, có hai khoang mui kín và chở được nhiều người hơn so với xe lôi ở Cần Thơ. Thời kinh tế khó khăn sau năm 1975, xe lôi Hậu Giang, Cần Thơ lại cải tiến cho 2 bên càng xe rộng thêm, lợi dụng sức kéo mạnh của chiếc Honda 67 chở nhiều khách hơn. Thập kỷ 80 của thế kỷ trước, tôi từng đi trên những chiếc xe lôi chở đến 7 người lớn gồm 6 người ngồi trên thùng xe, 1 người ngồi sau lưng bác tài, như vậy tổng cộng là… 8 người! Thật ấn tượng!

Không chỉ chở người, ngày đó xe lôi còn là phương tiện chở hàng hóa. Khắp các nẽo đường miền Tây từ đô thị đến nông thôn, xe lôi chạy nườm nượp nhìn rất vui dù rằng người chạy xe lôi thường nghèo nhưng có một chiếc xe lôi, một chỗ “đậu tài” tại một bến xe nào đó là đủ nuôi sống vợ con…

Còn nhớ những năm cuối 1980 đầu 1990, tôi thường có những đêm dài lang thang cùng một người bạn thân tại thành phố Cần Thơ. Tại thành phố này, các bến xe lôi lớn nhất là bến Ngô Quyền, bắc Cần Thơ, bến Võ Văn Tần... nhưng thật ra ở khắp các vỉa hè, trước cổng bến xe khách, trước cổng bệnh viện, khách sạn, bến tàu, đầu hẻm hoặc trên đường đi, lúc nào hành khách cũng có thể dễ dàng ngoắc tay là có xe lôi dừng lại ngay.

Trong các cuộc trò chuyện của mình với các bác tài xe lôi, tôi được biết không ít trong số họ là sĩ quan hoặc binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi được đi "cải tạo" về, không nghề nghiệp, chỉ còn biết gom góp chút tiền, nếu may mắn còn chiếc honda cũ, thì mua thêm cái thùng lôi, kiếm chỗ đậu tài kiếm sống! 

Những biến động chính trị tại VN góp phần thêm vào những oái ăm của định mệnh. Có lẽ trong thế giới của những hoàng tộc, số phận của nhiều hậu duệ triều Nguyễn khá bi đát. Vào năm 1949, theo một số nhận định, để thực hiện biện pháp chia rẻ, Vĩnh Giu, một trong 19 hoàng tử của vua Thành Thái đã bị người Pháp đưa xuống Cần Thơ làm việc bên ngành cầu đường thuộc Ty Giao thông Công chánh. Tại đây, ông đã yêu một cô gái miền Tây mặn mà. Cuộc hôn nhân của một hoàng tử thất thế và cô thôn nữ vùng đòng bằng quê gốc Cần Thơ đã có một kết quả khá “phồn thực” vỏi 7 người con. Tuy vậy cuộc sống của gia đình hoàng tử này rất khó khăn, thậm chí để có tiền nuôi con, ông Vĩnh Giu còn đi làm nhạc công cho các quán bar tại Cần Thơ, dù vậy các con ông vẫn không thể theo học lên cao. Sau năm 1975, cuộc sống gia đình ông càng bi đát hơn, Vĩnh Giu thôi làm làm ở Ty Giao thông Công chánh Cần Thơ, và phải sống nhờ nhà mẹ vợ trong một con hẻm trên đường Phan Đình Phùng. Tại đây, ông Vĩnh Giu làm nghề sửa xe đạp để mưu sinh và mất trong nghèo khổ. Một trong nhưng con trai ông là Nguyễn Phước Bảo Tài, tức cháu nội vua Thành Thái, giạt về vùng ngoại ô xa xôi là thị trấn Cái Răng, và mưu sinh bằng nghề chạy xe lôi tuyến Cái Răng- Cần Thơ.

***

Ta tạm quên số phận hẩm hiu của gia đình hoàng tộc này để trở lại với những bước thăng trầm vận vào chiếc xe lôi.  Ngoài việc chở khách thông thường, xe lôi khi ấy gần như là phương tiện duy nhất của các cánh bướm đêm lang bạt. Sau 11g đêm đến gần sáng, từ các quán bia ôm, các em mặt đầy son phấn túa ra, khi đó các "mối xe lôi" đã sẵn sàng đưa các cuộc đời kỷ nữ về những phòng trọ tồi tàn hay những khách sạn rẻ tiền để tiếp tục cuộc bán mua. Và buổi sáng, những chuyến xe lôi đặc biệt đó cũng sẵn sàng chờ đợi, đón đưa những mảnh đời rách nát..

Nhưng như đã biết, đến đầu năm 2008, tại Cần Thơ và nhiều nơi khác thuộc đồng bằng sông Cửu Long, xe lôi đã bị cấm hoạt động, và nếu còn, chỉ là xe lôi chạy chui.

Du vậy vài năm trước, khi đi chơi vòng quanh đồng bằng cùng mấy đứa em trai, tôi vẫn còn nhìn thấy xe lôi ở các tỉnh, thị xã, huyện.. vùng biên như Châu Đốc, Tịnh Biên, Rạch Giá... và chúng tôi đã dùng xe lôi đạp đi quanh thành phố Hà Tiên, nhưng tất nhiên xe lôi đạp chỉ chở được vài người lớn, vì sức người có hạn.

Thú thật tôi không hiểu vì sao nhà cầm quyền các tỉnh miền Tây lại cấm tiệt xe lôi. Nói rằng nó nguy hiểm, dễ gây tai nạn giao thông thì không phải vì phương tiện này tuy nhìn có vẻ mạo hiểm nhưng chưa có thống kê nào cho thấy đi xe lôi dễ tai nạn hơn đi những loại xe khác. Còn nói rằng nó xấu thì lại càng sai, vì cũng như xích lô tại Sài Gòn, xe lôi là một phần “hồn cốt” của Nam Bộ. Dù gì thì giờ đây, xe lôi gắn máy đã gần như hoàn toàn mất dấu tại một số đô thị lớn miền Tây, mỉa mai là thay thế nó, có những chiếc “xe lôi Tàu” xấu xí, kềnh càng dù không chở người nhưng tham gia vận chuyển hàng hóa trên các tuyến đường, càng làm nhói lên bao câu hỏi về một sự lệ thuộc Bắc phương toàn diện của những kẻ cầm quyền.




(Trong tập tạp bút: Miền Tây- chưa xa mà đã xưa)

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

Cứ ngồi trong hũ mà kêu khóc!



Trả lời câu hỏi Zing.vn về việc thời gian gần đây, chương trình nhạc nhẹ thường không dễ bán vé nhưng những đêm nhạc bolero lại bùng nổ, thậm chí cháy vé, nhạc sĩ Lê Minh Sơn thẳng thắn: “Dưới góc độ kiếm tiền thì việc bùng nổ các đêm nhạc bolero là rất tốt nhưng đối với người sáng tạo thì đấy là sự trì trệ và đau khổ”!
Cách trả lời của tay này nghe rất ngạo mạn, có ý coi nhẹ các ca khúc bolero, xem như hát nó để… kiếm tiền. Trong khi đó, ông Sơn cho biết sẽ giới thiệu đêm nghệ thuật mang tên “Tiếng khóc kêu trong hũ”, dự kiến diễn ra vào ngày 18/11 tại Nhà hát Lớn Hà Nội!
Nói một cách sòng phẳng thì các nhạc sĩ Hà Nội chỉ làm dáng, ra vẻ sang trọng, còn âm nhạc của họ thì nửa nạc nửa mỡ, sang không ra sang, bần không ra bần, chát chúa trộn lẫn với eo éo, nên công chúng họ có thèm nghe đâu. Những ai mua vé xem các chương trình này, cũng là làm dáng mà thôi.
Muốn phản bác nhận xét trên của tôi ư? Hãy xem người Hà Nội thực sự đang thích nghe nhạc của ai? Họ vẫn đang mê Trịnh Công Sơn, và một giai tầng khác thì mê bolero do Lệ Quyên hát. Có mấy ai mê Lê Minh Sơn theo cái cách đắm đuối kia?
Một đêm nhạc hay một nhạc phẩm mà mang cái tên “Tiếng khóc kêu trong hũ” thì công chúng nào thưởng thức? Và vì vậy đừng nhân danh sự sáng tạo mà dè bỉu một dòng nhạc có sức sống mãnh liệt, đã vượt qua được sự tàn bạo giết chóc từ mệnh lệnh hành chính trong suốt gần 40 năm, và không chỉ sống, dòng nhạc đó còn ngạo nghễ vượt qua vĩ tuyến 17, chiếm lĩnh cả con tim và thị trường phía Bắc để chứng minh nghệ thuật nhân bản sẽ chiến thắng nghệ thuật minh họa!
Tốt nhất Lê Minh Sơn cứ ngồi trong hũ mà kêu khóc!

Lợi thế của âm nhạc




Sau 1975, gần như mọi loại hình văn nghệ của miền Nam đều bị cấm, bị xem như “nọc độc văn hóa của Mỹ Ngụy”, trong đó văn chương và âm nhạc được xem như loại ‘đầu sỏ”! Thế nhưng trong khi văn học, với các loại sách báo gần như “biến mất”, chỉ còn lại lèo tèo trong các hiệu sách cũ, trên các lề đường đầy bụi hoặc được giấu giếm một cách hiếm hoi trong các tủ sách gia đình thì âm nhạc,mà điển hình là các ca khúc (được người cộng sản gọi một cách khinh bỉ là nhạc vàng (vọt)) vẫn có một đời sống bán công khai và liên tục, theo tôi đó là do âm nhạc đã biết phát huy lợi thế do tính chất đặc thù của mình.

Ai sống ở Việt Nam sau 1975 đều nhận thấy các ca khúc cũ chỉ “im hơi” một vài năm đầu do tâm lý sợ hãi rồi sau đó vẫn tiếp tục được nghe, được hát trong các gia đình miền Nam và sau đó nó “lấn sân” ra miền Bắc (phần lớn là các ca khúc “bình dân” - boléro) và lấn át hẳn các “ca khúc cách mạng”. Và sau hơn 30 năm, khi thế hệ nhạc sĩ viết ca khúc cũ đã thôi sáng tác hoặc mất đi, các thế hệ nhạc sĩ trẻ lớn lên đã sáng tác theo chiều hướng khác, một điều lạ lùng là người ta vẫn cứ nghe, cứ hát, không chỉ tại Việt Nam mà còn tại các nước mà người Việt đến định cư, những ca khúc cũ một thời, tưởng chừng nó vẫn không cũ đi dù rằng so với thế giới, nó đã hoàn toàn lạc hậu!

Vì sao có hiện tượng này? Nhiều người cho rằng có lẽ các nhạc sĩ viết ca khúc hiện nay chưa đủ tài năng để viết ra những bài ca vượt khỏi “cái bóng” của các nhạc sĩ cũ như  Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng… hay “bình dân” như Trần Thiện Thanh, Trúc Phương, Lam Phương… và cả xa xưa như Văn Cao, Đặng Thế Phong… cùng với đó là sự bế tắc trong “dòng nhạc đỏ”, khi những “Tiếng đàn talư, Bác cùng chúng cháu hành quân”… đã trở thành xa lạ. Thế nhưng chủ đề bài viết này không phải bàn về chuyện “vì sao vẫn hát nhạc vàng” mà lại nói về chuyện khác, chuyện “vì sao hát được nhạc vàng”.

Lý do thực ra cũng khá là đơn giản. Thứ nhất không như thú đọc sách, phải kén chọn người đọc theo từng loại sách, đề tài, các ca khúc âm nhạc có vẻ “dễ dãi’ hơn. Một ông “cử nhân văn chương” cũng có thể mê “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” như một bà bán xôi chè trong khi nếu ông ta “hứng bất tử’có đem tặng “bà chị” này một cuốn sách của Phạm Công Thiện thì chắc bà chị chỉ có một cách xé sách ra làm giấy gói xôi! Ví dụ trên cho thấy âm nhạc đã mang tính “quần chúng” hơn hẳn văn chương và chính vì vậy nó vẫn còn “đất sống”. Thứ hai: Đất sống ở đây là do tính đặc thù của âm nhạc ca khúc như dễ nghe, dễ nhớ, dễ… hát. Và đặc biệt hơn dễ… sản xuất, nhân bản!

Cùng bị cấm cùng với sách, nhưng các băng đĩa nhạc ngày ấy, dù bị tịch thu vẫn còn tồn tại trong các gia đình, và chuyện “sang một cuộn băng” để tặng nhau là một chuyện khá dễ dàng, trong khi đó để “nhân bản” một cuốn sách là quá nhiêu khê. Trước những năm 1990, các tiệm photocopy rất ít và được quản lý chặt chẽ, đem một cuốn sách in tại miền Nam ra tiệm để “photo” là đối diện với án tù vì tội “tuyên truyền văn hóa phẩm Mỹ ngụy” độc hại trong khi chỉ cần có một cái catsette đặt trong phòng ngủ là bạn có thể thoải mái săng băng.

Một lý do khác nữa là khi cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ mạnh lên, đông đúc thì nhu cầu thưởng thức âm nhạc đã giúp các “trung tâm âm nhạc” phát triển nhanh chóng. Với lợi thế của một đất nước tiên tiến, các nhạc phẩm cũ nhanh chóng được biểu diễn, thu âm với các phương tiện hiện đại bật nhất, chỉ có tinh thần, cách hát là vẫn cũ và từ Mỹ, các băng đĩa ấy tìm đủ mọi cách trở về Việt Nam, và tại đây nó nhanh chóng được nhân bản (lậu) và cũng phát hành (lậu) ra cộng đồng!

Và nếu để ý chúng ta cũng thấy rằng so với sách báo thì âm nhạc có vẻ được chính quyền “dễ dãi” hơn. Giả sử bạn có ôm đàn nghêu ngao ‘ngày xưa ai lá ngọc cành vàng” mà một “ông công an” văn hóa đi ngang, nghe được thì cũng… chả sao, và sau này thì hầu như chuyện “nghe và hát nhạc vàng’ tại gia đình là điều không bị cấm, dù bạn có rống lên “anh không chết đâu anh”, ‘anh Quốc ơi” hay “hát cho người nằm xuống” cũng chả có ma nào để ý, bởi có thể họ cũng chả biết mấy “thằng cha” trong các bài ca não nùng ai oán kia là ai!

Ngày nay, khi mà không khí đã “dễ thở” hơn, chuyện lật lại vấn đề “in lại và công nhận” các sách, báo miền Nam chắc chắn gặp rất nhiều nhiêu khê và cả không tưởng trong một thể chế toàn trị đầy kiêu ngạo nhưng nhiều mặc cảm, thế nhưng các ca khúc viết trước thời điểm 30.4.75 thì gần như “ngoài cuộc” vì nó vẫn cứ sống từ đó đến giờ. Chỉ có hơn 50 bài của Phạm Duy được hát công khai trên TV, trên sân khấu nhưng tất cả các ca khúc của ông vẫn được hát công khai trong các cuộc vui bạn bè, trong các quán karaoke và cả đôi khi trong các phòng trà. Tình trạng này cũng tương tự như những ca khúc bị cấm của Trịnh Công Sơn bởi người ta vẫn cứ hát, trong khi ấy các “ca khúc cách mạng”, các bài hát ngợi ca lãnh tụ của các nhạc sỹ được ca tụng như thiên tài thì chả có ma nào ngó tới, ngoài các dịp lễ lạt.

Câu chuyện có ông “nhạc sỹ lớn” phân bì với Phạm Duy (khi thấy ông này được công ty Phương Nam ưu ái) ồn ào một thời hay chuyện “live show” của Phạm Duy, của Chế Linh và cả Vinh Sử (người miền Nam không mặn mà lắm với ông này) cháy vé tại Hà Nội mới đây chính là chuyện “nhãn tiền” về một sức sống mạnh mẽ của văn nghệ miền Nam cho giới lãnh đạo văn nghệ hiện tại, và đó phải chăng là lý do rõ ràng nhất để họ quyết tâm phủ nhận văn học miền Nam?

N.Đ.B.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Mặt dày tim đen!




Vụ cái gọi là “Đề án Ngoại ngữ quốc gia giai đoạn 2016-2020” với mục tiêu thí điểm tiếng Nga, tiếng Trung như ngoại ngữ thứ nhất làm dấy lên nhiều bức xúc của dư luận vì ai cũng sợ con mình bị ép buộc học tiếng Nga, tiếng Tàu một cách vô bổ trong khi cái cần là tiếng Anh thì mấy chục năm nay nhà trường dạy cách chi mà học xong lớp 12, tức sau 6 năm học, tất cả học sinh đều ù ù cạc cạc trước một du khách nói tiếng Anh, dù họ chỉ… hỏi đường!
Nhưng các vị đừng quá lo lắng. Không có chuyện họ ép học tiếng Nga, tiếng Tàu đâu. Hãy nghe họ trả lời báo chí nè:
- Trong Đề án có nhiều khái niệm như 'ngoại ngữ thứ nhất', 'ngoại ngữ thứ hai' gây nhiều thắc mắc, đề nghị Ban quản lý giải thích rõ hơn các khái niệm này?
- Ngoại ngữ thứ nhất buộc người học phải lựa chọn để học theo quy định từ năm 2006 của chương trình giáo dục phổ thông. Học sinh được chọn một trong bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc làm ngoại ngữ thứ nhất, từ lớp 6 đến lớp 12 (hệ 7 năm). Năm 2011, Bộ ban hành thêm chương trình tiếng Nhật cấp THCS và THPT, đưa vào dạy học trong trường phổ thông cấp trung học như ngoại ngữ thứ nhất và thứ hai, tùy theo nhu cầu và lựa chọn của địa phương, trường học và người học. (Báo VNE).
Như vậy có nghĩa “Học sinh được chọn một trong bốn thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc”. Tôi thì cho rằng 90% học sinh sẽ chọn tiếng Anh, 9% chọn tiếng Pháp và chừng 1% chọn tiếng Nga, Trung.
Bộ Giáo dục có nghĩ như vậy không? Chắc là có! Vậy tại sao họ cố tình nhồi nhét đủ thứ tiếng (có thêm Đức, Nhật) vào cái đề án này? Câu trả lời là càng nhiều thứ thì xin tiền càng nhiều. Nghe nói 500 triệu USD cho giai đoạn đầu. Đề án chưa phê duyệt nên phải o bế để thông qua và giải ngân đặng kiếm %!
Vì vậy các vị đừng lo con mình phải học tiếng Tàu, tiếng Nga, các vị chỉ nên lo thêm tiền… đóng thuế!
Tôi nói vậy có đúng tim đen các ông không hả mấy ông giáo dục?


Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

Hòa bình, giấc mơ xa vời của nhân loại



Hôm nay 21/9, là “Ngày quốc tế Hòa bình, cũng gọi là Ngày Hòa bình thế giới” với thông điệp “Hòa bình bắt nguồn từ tình yêu thương” và “Hãy trao đi tình yêu thương nhân ngày hòa bình thế giới”.

Việt Nam, kể từ Ngô Quyền dựng nghiệp, có lẽ là đất nước hàng đầu trên thế giới luôn chìm trong chiến tranh chống ngoại xâm và nội chiến, nên với đa số người dân hòa bình không chỉ là ước muốn, một giấc mơ mà còn là một khao khát. Trong cuộc chiến Bắc- Nam tàn khốc trước 1975, người miền Nam luôn khao khát hòa bình, và nếu bỏ qua “chiến tranh ủy nhiệm” từ các cường quốc Nga, Tàu, Mỹ áp đặt trên quê hương thống khổ này, có thể nhận ra người lính Viêt Nam Cộng Hòa chỉ cầm súng để tự vệ.

Người cầm bút miền Nam cũng vậy, trước Hiệp định Paris, với hy vọng chiến tranh chấm dứt, lập lại hòa bình ở Việt Nam, nhạc sĩ Thông Đạt trong ca khúc Tình Em Biển Rộng Sông Dài đã viết những ca từ đầy hoài mong khắc khoải:

Hòa bình ơi,
Tình yêu em như sông biển rộng.
Tình yêu em như lúa ngoài đồng.
Tình yêu em tát cạn biển đông.
Hòa bình ơi, chờ trông nhau như con chờ mẹ
Chờ trông nhau như gió mùa hè
Chờ trông nhau nắng đẹp tình quê

Nhạc sĩ Phạm Duy, đã sáng tác tập Bình Ca cũng với chủ đề này, vẽ lên một bức tranh đầy hoài vọng của người miền Nam:

Này em vang tiếng cười
Giờ chơi không e ngại
Trường lớp đó mới xây là nơi, là nơi
Ngày xưa, giam bao người
Già nua hay thơ dại
Trại cũ đã biến ra trường đời
Hoa hồng nở ở giữa vườn chơi

Này em đã tới giờ
Mẹ đưa em đi chợ
Từ sáng mãi tới trưa, còn lưa
Rồi khi đưa nhau về
Gặp anh hippy trẻ
Mặc áo rách đứng bên nhà thờ
Trông đẹp tựa hình Chúa hiền mơ

Nhưng thực tế đã chứng minh, đó chỉ là giấc mơ. Người cộng sản nhân danh “chiến tranh thần thánh”, phớt lờ hiệp định hòa bình đã ký kết, tiếp tục dội bão lửa xuống miền Nam, hoàn tất cuộc chiến bằng một chiến thắng của họ, và tạo ra một hệ lụy khủng khiếp về sự chia rẻ, hận thù, di tản và sụp đổ văn hóa cho đến ngày hôm nay.

Là người cầm bút tự do, tâm hồn tôi cũng khao khát hòa bình, theo đúng ý nghĩa tốt đẹp nhất của mỹ tự này. Nhưng lý trí tôi nhắc nhở rằng hòa bình thực ra chỉ là giấc mơ xa vời của nhân loại.

Bọn quỷ đỏ còn đó, và nếu không còn quỷ đỏ thì tiếp nối chúng là quỷ đen, quỷ xám hay một thứ quỷ nào đó với những cuộc chiến tranh khắp nơi trên thế giới mà chúng nhân danh, ca ngợi là thần thánh!


Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Ám ảnh Võ Phiến với bọn bồi bút văn nô



Tôi không biết gì về cuốn “Văn nhân Bình Định- một góc nhìn” của ông Lê Hoài Lương cho đến chiều nay, khi đi tìm xem các tác phẩm của nhà văn Võ Phiến trên internet thì lại được dẫn đường đến các bài “chửi” ông LHL, và không chỉ chửi, người ta gán cho ông này là thành phần chống đảng, phản động, chỉ vì chê… chiến sĩ cách mạng như ông Lê Văn Ngăn, mà ca ngợi nhà văn Võ Phiến, một nhà văn … chống cộng hàng đầu!

Hóa ra mấy văn nhân quốc doanh xã hội chủ nghĩa như Vương Kiều (gái hay trai?) và Phạm Thành Trai và một số kẻ khác, dù đã là năm 2016 vẫn dùng cái trò chụp mũ bẩn thỉu như thời Nhân Văn Giai Phẩm.

Như đã nói tôi không biết cuốn sách trên, cũng không có ý định đọc nó, nhưng hãy nghe Phạm Thanh Trai viết: “Đây là nguyên nhân khiến dư luận sục sôi phản ứng và quyết liệt phản đối vì mọi người đều biết rằng: Võ Phiến là một nhà văn chống Cộng hàng đầu của chế độ ngụy Sài Gòn. Thế nhưng, Lê Hoài Lương lý sự rằng: “Tôi chỉ trích tạp bút của ông ta thôi, tôi đâu có đề cập tới những tác phẩm chống Cộng của ông ta” (Trả lời phỏng vấn trên tạp chí Văn nghệ Bình Định số 36 tháng 4/2016). Rõ ràng Lê Hoài Lương đã cố tình ngụy biện một cách trơ trẽn đến thế là cùng ! “Võ Phiến viết nhiều thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, tạp bút, phê bình tiểu luận, biên khảo, tổng quan văn học, dịch thuật…Hơn 40 đầu sách chưa phải là nhiều so với những nhà văn Việt: Lê Văn Trương, Tô Hoài…Nhưng các lĩnh vực ông thực hiện từ sáng tạo đến dịch thuật, phê bình, biên khảo đều có những thành tựu đáng nể”.(trang 917)
Không chỉ thế, Lê Hoài Lương đã liệt kê không sót một tác phẩm nào của Võ Phiến, tức Đoàn Thế Nhơn, quê quán ở thôn Trà Bình, xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Một nhân vật chống Cộng bền bỉ, quyết liệt đến cuối đời…
Lê Hoài Lương đã lý sự, viện cớ để đưa Võ Phiến vào tập sách “Văn nhân Bình Định - một góc nhìn”. Vì sao ? Chính vì Lê Hoài Lương đã mê văn tài chống Cộng tuyệt diệu của Võ Phiến, nên anh ta tìm đủ mọi cách để “bảo kê” những tuyệt phẩm văn chương chống Cộng của nhà văn này. Anh ta công khai công bố thành tích của Võ Phiến: Từ sáng tạo đến dịch thuật, phê bình, biên khảo ở lĩnh vực nào ông cũng có thành tựu đáng nể . Mà thành tựu đáng nể của nhà văn Võ Phiến là gì ? Đó chính là lập trường chính trị kiên định với thành tích, công lao chống Cộng triệt để mà nhà văn Thu Tứ đã nêu tóm tắt là: “ Về hòa giải dân tộc, nhà văn Võ Phiến khẳng định không có nhu cầu; về thống nhất đất nước, nhà văn Võ Phiến đặt việc chống Cộng lên trên việc thống nhất đất nước; về chọn ý thức hệ, nhà văn Võ Phiến tuyệt đối bác bỏ việc chọn lựa chủ nghĩa Cộng sản”.
Rõ ràng, Lê Hoài Lương đã ma mãnh, quỷ quái nối cái đuôi chống Cộng của Võ Phiến, mượn chuyện văn chương để chuyển tải ý đồ. (báo Tầm Nhìn- hết trích).
Còn Vương Kiều: “Đặc biệt, đối với cố nhà thơ Lê Văn Ngăn – một nhà thơ đã nổi tiếng từ trước 1975 với những tác phẩm Sóng vẫn đập vào eo biển, Đất của những người bất phục, Bên hồ thủy ngữ, Giữa khi mưa lưu hoàng đổ... đã được đăng trên các tạp chí Đối diện, Ý thức, Trình bày… (trước 1975) và nhiều tác phẩm được đăng trên các chuyên mục Văn học của các báo và tạp chí Thanh niên, Tuổi trẻ, Sông Hương, Văn… (sau 1975), một người mà tài năng và nhân cách đã được khẳng định qua thời gian và những nhân chứng sống, thế mà Lê Hoài Lương đã sổ toẹt: “Tôi không thích con người ông trong đời sống, khi tiếp xúc. Thấy nó tẻ nhạt. Thấy nó bé mọn thế nào”.
Một sai lầm nữa về mặt lịch sử của Lê Hoài Lương khi nói về trận đánh lịch sử Phước Long: “Tôi đọc lịch sử nhiều nguồn nên biết Phước Long (được cách mạng chiếm thực ra là tiếp quản chứ không đánh đấm gì. Chính quyền Sài Gòn lúc ấy bị sức ép quá lớn vì biết những đoàn quân Bắc Việt đã áp sát quanh khu vực, họ tự rút lui để giữ căn cứ Tống Lê Chân, căn cứ quan trọng bảo vệ cửa ngõ phía tây Sài Gòn”. Lê Hoài Lương có cố tình xuyên tạc lịch sử đang được phổ biến hiện nay?
Thiết nghĩ để có được một đời sống văn học lành mạnh, tôi đề nghị các cơ quan quản lý văn hóa, cơ quan xuất bản, phát hành cần phải rà soát và loại bỏ những tác phẩm bôi bác, xuyên tạc, nhiều vi phạm như cuốn sách nói trên. (báo Một Thế Giới- hết trích).
Chỉ một câu nói về Lê Văn Ngăn “Tôi không thích con người ông trong đời sống, khi tiếp xúc. Thấy nó tẻ nhạt. Thấy nó bé mọn thế nào” sao cái tay Vương Kiều (cứ gõ lộn Vương Thúy Kiều!) lại la ỏm tỏi vậy? Thi sĩ là thi sĩ, còn đời sống là đời sống. Không lẽ ông Lê Hoài Lương phải viết là “Tôi cực thích con người ông trong đời sống, khi tiếp xúc. Thấy nó sinh động. Thấy nó vĩ đại  thế nào” thì mới vừa lòng các ông?Tởm.

Nhưng nhờ tò mò, tôi mới biết sức mạnh và tên tuổi của nhà văn Võ Phiến đã ám ảnh bọn bồi bút văn nô này như thế nào!

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016

Trường hợp nhà văn Dương Nghiễm Mậu, nghĩ về số phận của các văn nghệ sĩ sống trong chế độ độc tài.



Nhà văn Dương Nghiễm Mậu là một trong những cây bút hàng đầu của Việt Nam Cộng Hòa. Khi miền Bắc thuộc về Cộng Sản, ông di cư vào Nam và bắt đầu viết văn từ năm 1957. Sức viết của ông cực kỳ mạnh mẽ, chỉ không hơn 18 năm, tính từ khi khởi nghiệp đến khi VNCH sụp đổ, ông đã có một gia tài văn chương đồ sộ, và tên tuổi ông không một ai quan tâm đến văn học VN mà không biết đến. Nhưng thật chua xót, từ 1975 đến khi ông mất vừa qua, nghĩa là 41 năm, hầu như ông đã buông bút, có viết thì rất ít.
Cùng thời với ông, những ai còn ở lại đất nước cũng chịu chung số phận gần giống như vậy.
Nhìn ngược ra phía Bắc, những tài năng văn nghệ như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Huy Cận, Hữu Loan, Quang Dũng, Chế Lan Viên, Đoàn Chuẩn… thì tất cả những gì có giá trị của họ là các tác phẩm viết khi còn tự do tư tưởng. Khi bị ràng buộc, họ im lặng hoặc phải viết những tác phẩm vô giá trị, thậm chí trở thành phản cảm khi hậu thế nhìn nhận lại.
Nhìn ra thế giới, nước Nga trước năm 1917 là một nền văn hóa lớn, ngang tầm thế giới. Các nhà thơ, nhà văn của họ như Puskin, Lev Tolstoy, Dostoyevsky, Turgenev, Sekhov..., hay nhà phê bình Belinxki luôn được ngưỡng mộ bên ngoài biên giới Nga, thậm chí có ảnh hưởng đến các nền văn học khác trên thế giới. Nhưng sau khi Lê nin làm cách mạng, áp đặt thể chế độc tài lên Nga và cả một vùng rộng lớn gọi là Liên Xô, nền văn học Nga đã suy tàn, và di lụy cho đến bây giờ.
Tự do nằm trong tư tưởng. Đúng vậy. Nhưng với văn nghệ sĩ, môi trường tự do mới có thể kích thích sáng tạo. Sống trong u uất, rình rập, và tác phẩm biết chắc không phát hành được, không người đọc... họ khó có thể phát tác hết tài năng của mình. Mà thời gian không đợi ai. Vèo một cái hết một đời người ngắn ngủi.
Chính chế độ độc tài, cấm đoán tự do tư tưởng qua văn bản, đã thiêu rụi mọi tài năng. Nó chính xác là con quái vật hủy hoại Chân Thiện Mỹ!
Nhưng với tôi, chẳng thà không viết hay viết rất ít, vẫn tốt hơn là làm bồi bút!

Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...