Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI?



Ở những đất nước toàn trị, rất nhiều hành vi của con người bị ràng buộc, và muốn vượt thoát nó cần một sự dũng cảm, có khi là rất dũng cảm. Ở đây tôi chỉ nói về những người (và tổ chức) cầm bút tại Việt Nam ở thì hiện tại.

Hiện người cầm quyền vẫn luôn cho rằng Việt Nam có đầy đủ về quyền tự do ngôn luận như quyền về báo chí, xuất bản, lập hội và chứng minh rằng có trên 60 nhà xuất bản, trên 800 tờ báo, hàng ngàn cái hội… Dẫn chứng để chứng minh đó thật ngô nghê, buồn cười, không đáng phân tích, bởi chỉ cần dẫn lời của ông Thủ tướng mà báo Tuổi trẻ đăng vào năm 2009, ông Nguyễn Tấn Dũng đã nói đại ý “dứt khoát không cho thành lập nhà xuất bản và báo chí tư nhân”. Dứt khoát không cho! Rất rõ ràng!

Trong và trước thời điểm đó, Bùi Chát đã lập ra, điều hành, hoạt động Nhà Xuất Bản Giấy Vụn. Cái tên nhà xuất bản của ông mang hơi hướm hài hước, mỉa mai bởi phần lớn sách in từ nhà xuất bản này đều lén lút  in photocopy, và nhiều công đoạn làm bằng tay của chính ông giám đốc. Tuy vậy sách khá đẹp, nhiều cuốn có chất lượng và Nhà xuất bản Giấy Vụn được Hiệp hội các nhà xuất bản quốc tế (International Publishers Association) 
chính thức công nhận như một nhà xuất bản tư nhân của Việt Nam. Bùi Chát được mời đi dự hội thảo, được giải thưởng và sau chuyến đi nhận “Giải thưởng Tự Do Xuất Bản” do hiệp hội này trao tặng tại thành phố Buenos Aires (Argentina) vào năm 2011, khi về ông bị thu hộ chiếu cho đến nay không thể xuất ngoại. Nhà xuất bản Giấy Vụn dần bị lãng quên bởi tất cả điều hành, quản lý và xuất bản đều do một người, là ông Bùi Chát đảm đương, tuy nhiên sự dũng cảm của Bùi Chát khi một mình đương đầu với cả một thể chế không cho phép thành lập nhà xuất bản tư nhân là một ghi nhận không thể thiếu trong lịch sử xuất bản Việt Nam. Hiện nay Giấy Vụn vẫn tồn tại nhưng không còn gây tiếng vang như trước.

Sau xuất bản, một dấu ấn đáng lưu ý là vào ngày 3/3/2014 nhà văn Nguyên Ngọc đã thay mặt cho 61 cây bút trong và ngoài nước tuyên bố kêu gọi thành lập “Văn đoàn độc lập Việt Nam” trên mạng internet. Cùng với tuyên bố kêu gọi là sự ra mắt của trang web vanviet.info như một tiếng nói chính thức của văn đoàn này. Và tiếp theo ngày 4.7.2014 vừa qua, một tổ chức khác có tên “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” được tuyên bố thành lập với danh sách 42 hội viên, trong đó chỉ có 1 người ở Pháp. Như vậy cả Nhà xuất bản, Văn đoàn giành cho người sáng tác và Hội  nhà báo giành cho người hoạt động báo chí tại Việt Nam nhưng không cần xin phép của nhà cầm quyền, đều đã được công khai thành lập hoặc đang “vận động” thành lập.

Dù Hội nhà báo độc lập mới thành lập vài ngày, nhưng có thể nói nếu Văn đoàn độc lập quá chậm vì đến giờ vẫn chưa chính thức thành lập mà chỉ mới ở ngưỡng “vận động” thì Hội nhà báo độc lập lại quá nhanh. Họ tuyên bố thành lập và ra ngay một trang báo mạng có tên “Việt Nam Thời báo” trên face book. Trả lời RFI ông Chủ tịch hội là Phạm Chí Dũng nói: “Hoạt động thứ hai là chúng tôi phải có ngay một trang báo để phục vụ cho nhu cầu của độc giả; và chúng tôi kỳ vọng trong 10 năm, nó phải trở thành một tờ báo có đẳng cấp quốc tế trong khu vực Đông Nam Á và ít nhất có thể sánh ngang với tờ Bangkok Post và có thể tiến lên so sánh với tờ  Strait Times của Singapore.”

Quả là một mơ ước tích cực. Nhưng với một tờ báo, nói chưa đủ mà phải chứng minh. Face book chỉ là một trang mạng xã hội miễn phí có đủ thành phần, nó không thể là một trang “thời báo” đúng nghĩa nghiêm túc, nên muốn 10 năm sau, Việt Nam Thời Báo sánh ngang với Bangkok Post và Strait Times e là quá lạc quan, nhất là khi chúng ta nhìn vào nhân sự đã được công bố. Rất tiếc cho Hội nhà báo độc lập, lẽ ra họ nên chuẩn bị thật kỹ càng, để ngay sau tuyên bố thành lập tổ chức và tên tờ báo, tờ Việt Nam Thời Báo ít nhất phải là một trang web chỉn chu, độc lập, mang đầy đủ tính “thời báo” chứ không phải chỉ là một nick name trên face book.

Nhìn chung cả ba tổ chức trên, điều cần và thiếu nhất là nhân sự và sự tin tưởng của cộng đồng. Riêng Văn đoàn độc lập và Hội nhà báo độc lâp dù mới ra đời nhưng có thể nhận xét nó sẽ khó thu hút mạnh mẽ những người hoạt động trong lĩnh vực mà họ tuyên bố. Điều này không chỉ vì nỗi sợ nhà cầm quyền mà còn những nghi ngại khi nhìn vào danh sách những người tổ chức. Nó khá là “dung hợp” với người cũ, người mới, cả đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam và cả các nhân vật bị chính quyền “điểm mặt”. Lòng người vốn đa nghi nhưng không thể trách lòng người!

Dù vậy trong tình hình Việt Nam trước đây và hiện nay, cần ghi nhận sự dũng cảm của các thành viên độc lập và công tâm, khi họ không chịu sự quản lý của nhà nước ở các lĩnh vực xuất bản, văn học nghệ thuật và báo chí. Nhưng trong nghề báo, nghề văn, chỉ dũng thôi là chưa đủ, thời gian vẫn còn ở phía trước, tạm nghĩ vậy, và những tổ chức kia sẽ đủ thời gian để chứng minh họ “tồn tại hay không tồn tại”.

5.7.2014

Thứ Sáu, 4 tháng 7, 2014

ĐỘC HUYỀN


Làm thân con gái đừng nghe đàn bầu
(Ca dao)

Ven bờ một dòng sông lớn thuộc ngoại ô thành phố nọ, có một xã cù lao. Dân ở đây phần lớn sống bằng nghề chài lưới, giăng câu và một số canh tác trên những khoảng đất hẹp. Về phía cuối cù lao dân cư thưa thớt, chỉ có dăm bảy nóc nhà nhưng trong ấy có một gia đình khá nổi tiếng. Họ không nổi tiếng về sự giàu có, dân cù lao chẳng mấy ai giàu, mà nổi tiếng vì chủ gia đình vốn là một danh cầm từng theo đàn cho những gánh hát lớn. Nhưng không biết vì sao người nghệ sĩ ấy bỏ gánh hát, ôm cây đàn độc huyền trở về quê. Người thì đồn anh ta thất tình một cô đào thương vốn là nhân tình của bầu gánh, kẻ lại bảo chỉ đơn giản vì chán làm cánh chim lang bạt nên anh ta ôm đàn về quê cưới vợ. Không biết ai đúng, chỉ thấy anh ta cưới vợ và sinh được một đứa con trai. Đêm đêm, khi xóm cù lao ngủ sớm, những người làm nghề câu thường nghe vẳng tiếng độc huyền ai oán, nhức nhối mà đầy ma lực từ phía căn nhà ấy vọng ra lan khắp trên mặt sông như một lời nỉ non tiếc nuối về một thuở xa xôi...

Năm tháng dần trôi qua, đứa bé lớn lên như mọi đứa trẻ bình thường khác nhưng lại được người cha mang dòng máu nghệ sỹ dạy đàn rất sớm. Nhưng rồi đứa bé sớm mồ côi mẹ còn cha thì lâm vào cảnh nghiện ngập và cũng mất đi khi nó tròn mười sáu tuổi. Không nghề nghiệp, gia sản chỉ là một mảnh vườn nhỏ và cây đàn một dây, cậu bé đành về sống nương nhờ bên ngoại. Nhưng ông bà ngoại thì quá già còn cậu mợ thì hất hủi nên chỉ được vài năm cậu bé, giờ đã ra dáng thanh niên, đành trở về căn nhà xiêu vẹo của mình, xin học nghề câu ở một ông lão tốt bụng và đêm đêm lại đem đàn ra gảy những khúc bi ai.



Xóm làng đông đúc lên dần, chàng trai cũng trưởng thành nhanh chóng. Rồi cái nòi tình lại xui chàng đem lòng yêu một cô gái duyên dáng, xinh đẹp nhất vùng mà ngày ngày vẫn đi ngang nhà chàng để ra bến đò qua chợ. Đáng buồn thay nàng là con nhà khá  giả nhất cù lao trong khi chàng chỉ  có túp lều rách với một cây độc huyền. Mà người ta ai còn cần đến cây đàn cổ xưa này nữa? Đám thanh niên trạc tuổi chàng chỉ biết chơi ghi ta và chê tiếng đàn một dây ai oán, không thích hợp với những giai điệu mới. Thậm chí có một vài người có uy thế trong vùng còn hăm dọa sẽ đem ném cây đàn xuống sông vì họ cho rằng tiếng đàn ấy cũng như tiếng tiêu, tiếng sáo sẽ đem lại điều xui xẻo cho cả địa phương!?

Trái tim chàng trai sớm mang dòng máu tài hoa như bị bóp nát mỗi khi chàng nhớ về người mà chàng yêu thầm nhớ vụng. Cô gái vẫn vô tình, thậm chí có hôm cô đi cùng với mấy chàng trai hoạt bát, hào phóng và họ thản nhiên đùa giỡn khi đi ngang qua căn nhà lá bé nhỏ đang chứa đựng một tâm hồn run rẩy vì tuyệt vọng.

Nhưng dù ôm mối tuyệt tình chàng cũng phải ra đi hàng đêm cùng đi với những chiếc cần câu. Chàng chỉ có một công việc ấy để kiếm sống. Và khuya về, những khuya mùa khô gió bấc non se sẻ thổi, không thể nào ngủ được chàng lại đem đàn ra gảy. Tiếng đàn lại càng tha thiết, bi thương hơn bao giờ hết. Dưới ánh trăng, những tán lá trong vườn cũng run lên bần bật vì những sợi tơ âm thanh như đang cuốn lấy chúng mà dày vò. Những người đi giăng lưới khuya chép miệng: “Thằng nhỏ giống ông già nó. Rồi cũng khổ một đời!”.

Nhưng họ đã lầm. Chính tiếng đàn ấy đã đem đến cho chàng trai những đêm tuyệt diệu trong cơn hoan lạc ái tình. Một đêm kia, khi vầng trăng non sắp lặn, chàng đang chìm đắm trong một khúc nhạc do chính cha chàng sáng tác và truyền lại thì bỗng sững sờ, bàn tay trên cần phím quắp lại cứng đờ và miệng lắp bắp mãi không nói được một câu. Đứng kề bên chàng, không biết tự bao giờ là người mà chàng hằng mơ tưởng, hằng khát khao.
- Sao anh không đàn nữa?
- Tôi... tôi...
- Em hiểu những gì mà anh gởi gắm qua tiếng độc huyền này. Em đến với anh đây!
Cô gái bạo dạn lạ lùng. Thế nhưng chàng trai bất ngờ đến suýt vỡ tim thì không còn chỗ cho lý trí làm việc. Lúc ấy chàng chỉ thiếu điều quì xuống ôm lấy chân nàng mà thôi.
- Đàn nữa đi anh! Em thích nghe lắm! Cô gái nhắc, giọng nói thánh thót như một chuỗi nốt nhạc.
Nhưng với bàn tay run rẩy chàng không còn làm chủ được cả âm thanh lẫn giai điệu nữa. Cô gái cười khúc khích:
- Chắc tại em đến làm anh không đàn được. Thôi em về đây! Cô dợm bước nhưng chàng trai đã nhanh hơn. Họ ngã vào nhau và mê đắm ngay từ phút đầu. Trăng lặn, cây đàn không lên tiếng nữa...

Gần sáng, cô gái vuốt lại tóc, sửa lại quần áo rồi bảo:
- Em dặn anh điều này và anh phải nhớ cho thật kĩ. Cha em không thích anh nên nếu mà ban ngày có gặp nhau ta cũng nên xử sự như hai người xa lạ. Anh nhớ nghen. Rồi em sẽ đến từng đêm!

Chàng đồng ý ngay. Tất cả mọi chuyện quá đột ngột và còn hơn cả trong mơ. Khi nàng đã nhanh nhẹn và uyển chuyển khuất sau con đường nhỏ đã bắt đầu mờ mờ sáng chàng nâng cây đàn lên môi và hôn thắm thiết. Nhờ nó mà chàng đã chinh phục được người mình say mê. Giờ đây chính cây đàn cũng nhuốm một mùi hương ngây ngất.

Cứ vậy, sau khi chàng đi câu về, ngồi đánh một hai bản nhạc là nàng đến. Họ lại đắm đuối như mọi cặp tình nhân mới bắt đầu hưởng vị trái cấm. Nhiều lúc chàng mê man không còn nhớ về bất cứ chuyện gì. Đang sức trai mới lớn nhưng chàng cũng gầy đi vì những đêm hoan lạc còn những người giăng lưới khuya thì kháo nhau: “Quái! Độ rày tiếng đàn thằng nhỏ nghe lạ lùng quá. Hình như là âm u hơn. May mà nó đã ít đi!”.

Gần một năm trôi qua. Mọi chuyện vẫn bình thường đến nỗi không một ai để ý hoặc tò mò gì. Vào buổi sáng, cô gái duyên dáng nhất vùng ấy vẫn đi ngang qua nhà chàng để đến bến đò qua chợ. Đôi khi chạm mặt nhau họ làm ngơ như đã giao ước từ ngày đầu. 

Nhưng một đêm nàng bảo:
- Vài hôm nữa sẽ có người đến cưới em nhưng mong anh đừng buồn. Em đã lo liệu hết rồi!
Cả cù lao như sụp xuống đáy sông sâu sau câu nói ấy. Chàng nắm lấy vai nàng lắc mạnh:
- Cưới em? Tại sao em lại bỏ anh?
- Anh! Nàng đáp buồn – Ba em đã hứa gả và bắt buộc phải nghe lời. Nhưng từng đêm em vẫn đến mà. Anh đừng lo!
- Làm sao mà em đến được nếu như em lấy chồng? Chồng em rồi sẽ biết và anh sẽ mất em!
- Em đã lo xong hết rồi! Sẽ không ai biết!

Nàng đáp với một nụ cười bí ẩn và quyến rũ nhất. Và chàng lại mê man chìm vào đôi gò ngực rắn chắc mà bồng bềnh như sóng cù lao.

Mấy hôm sau thì đám cưới thật. Đó là cái đám cưới lớn nhất cù lao từ trước đến nay. Nhà trai ở bên kia sông tức là bên thành phố. Cô dâu cười rồi lại khóc nức nở khi con đò rước dâu rời khỏi bến nhưng mọi người chứng kiến đều thấy rõ đó là những dòng lệ chứa chan hạnh phúc!


Thế nhưng kỳ lạ làm sao, đêm ấy, nghĩa là ngay trong đêm động phòng hoa chúc, khi mà chàng trai ôm đàn gảy những khúc tuyệt vọng thì lá cây lay động ở đầu ngõ rồi nàng hiện ra. Vẫn nóng bỏng, vẫn mềm mại, vẫn ngát thơm...

Họ lại đắm chìm trong cơn hoan lạc. Và gần sáng, nàng lại vuốt lại mái tóc, sửa quần áo ra về. Và cứ như thế từng đêm...

Bây giờ chàng không đủ sức để đi câu đêm nữa. Chàng chỉ có thể quanh quẩn nơi bến sông trước nhà dùng chài và lưới mành bắt những con cá nhép sống đắp đổi và đợi chờ đêm đến. Chỉ có màn đêm mới đem lại hạnh phúc cho chàng dù càng ngày chàng càng cảm nhận được rằng đó là một hạnh phúc đầy ắp phù du.

Thành phố bên kia ngày một đông đúc, chật chội. Rồi chính quyền thành phố công bố một bản qui hoạch mới theo đó xã cù lao sẽ thành một khu dân cư cao cấp dành cho người giàu đến an dưỡng và những nhà cao tầng sẽ xây lên cho người nước ngoài thuê. Người ta làm móng để đúc một chiếc cầu lớn qua sông, nối cù lao và nội thành. Đất trở nên đắt như vàng. Mọi dân cư ở đây đều xôn xao bởi bỗng chốc họ trở thành giàu có tột cùng. Người ta bỏ làm vườn, bỏ nghề câu để bàn về việc bán đất và xây nhà, sắm xe. Chỉ có chàng trai hạnh phúc và bất hạnh kia thì vẫn thờ ơ với mọi biến cố. Thế nhưng một đêm kia nàng đến với khuôn mặt u buồn nhất và bảo:
- Em đến để vĩnh biệt anh!
- Vĩnh biệt? Chàng bàng hoàng.
- Phải. Chúng ta không thể gần nhau được nữa. Em phải đi xa vì bị trục xuất!
- Ai trục xuất em? Em không thể đi! Không thể bỏ anh. Anh sẽ chết vì thiếu em!
Nàng lại hôn và lại vuốt ve chàng bằng đôi môi nóng bỏng và thành thạo. Thời gian đi rất nhanh. Mới đó mà đã qua đêm...
- Nghe em dặn đây – Khi từ giã nàng nói: - Và anh đừng bao giờ cãi lời em nếu không thì sẽ là tai họa. Từ đây, nếu có bao giờ gặp lại em thì anh hãy nhớ, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, trong thời gian nào đôi ta vẫn là người xa lạ!

Chàng gật đầu. Mấy năm sau chàng đã quen không cãi nàng dù chỉ nửa lời. Nhưng nước mắt chàng rơi lã chã. Họ chia tay nhau như vậy.

Sáng hôm sau chàng nhìn thấy từng đoàn nhân công xây dựng kéo qua nhà mình. Cây cầu lớn đã hoàn thành. Giờ họ đến đây san nền chuẩn bị xây một tòa nhà lớn trên mảnh đất cách nhà chàng vài trăm mét. Cả ngày hôm ấy họ đào làm móng nhà và phát hiện ra vô số xương người bên dưới. Thì ra đó là một nghĩa địa cũ chắc đã bị bỏ quên từ bao nhiêu năm. Những xương đào lên ấy được bỏ chung vào một cái quách lớn và đem đốt đi theo lệnh những chủ thầu xây dựng.

Đêm ấy tiếng đàn như một lời rên. Những công nhân nằm cạnh ngôi nhà ấy rùng mình ngỡ như có tiếng thở than của những linh hồn trong khu nghĩa trang vừa phát lộ đang hiện về ám ảnh. Nhưng nửa đêm tiếng dây đàn đứt “phựt” rồi im bặt!

Đất cù lao, giờ nhộn nhịp như nội thành và vẫn tiếp tục lên giá đến khó tin. Cái nền nhà và mảnh vườn nhỏ của chàng nếu bán cũng có thể nuôi chàng cả đời. Nhưng chàng không bán, đêm đêm vẫn ngồi chơi đàn trong nỗi chờ đợi tuyệt vọng và tiếng đàn  càng ngày càng làm người ta nổi da gà vì mức độ truyền cảm đầy u uất.

Một hôm có một thương gia trẻ đến tìm chàng và trả giá một trăm lượng vàng cho tất cả số đất mà chàng sở hữu. Còn đang kỳ kèo thì vợ người thương gia ấy bước vào. Chàng trai ngây ra và bừng tỉnh. Chàng xông lại ôm cứng lấy người thiếu phụ trong tiếng kêu mê sảng. Đó chính là nàng. Người tình mê đắm vẫn đến hàng đêm. Hai vợ chồng người thương gia trẻ vừa hốt hoảng vừa giận dữ. Cô vợ kêu thét lên và anh chồng xông vào. Khi mọi người xúm lại thì chàng câu cá – chơi đàn đã ngất xỉu vì bị đánh mạnh vào đầu.
- Hắn khùng rồi! Thôi anh chị chấp trách làm gì!
- Chính cây đàn độc huyền này đã hại hắn! Cây đàn có ma. Phải ném bỏ nó đi!

Họ đem cây đàn vứt xuống sông. Chàng trai vẫn bằn bặt. Trong cơn mê, chàng thấy nàng hiện ra, vẻ mặt thương cảm:
- Em đã dặn anh rồi! Cô ấy không phải là em. Em chỉ là một linh hồn sống trong nghĩa trang kế bên. Vì yêu tiếng đàn và hiểu anh đang ôm mối tuyệt tình nên mới hiện lên giao duyên bằng hình ảnh ấy. Giờ thì họ đã phá vỡ, đốt bỏ nơi trú ngụ của em rồi và em phải ra đi. Hãy quên em!

Nàng xa dần rồi tan ra như một làn sương.

Người ta cạo gió, giật tóc mai, đổ gừng nóng vào miệng và chàng dần hồi tỉnh. Sau đó vài hôm chàng kêu bán mảnh đất của mình và bỏ đi biệt tăm. Cù lao nhanh chóng thành một nơi sầm uất với phố xá và xe cộ ken dầy. Vợ chồng người thương gia trẻ dọn về đó ở. Họ xây lên một căn nhà đẹp và mở một tiệm cà phê sang trọng. Ở đó họ đặt một dàn máy hát karaokê hiện đại. Và giờ đây hàng ngày có rất nhiều thanh niên nam nữ dắt tay nhau vào vừa hát vừa gào:
“Không, tôi không còn, tôi không còn yêu anh nữa! Không...”
Mấy ai còn nhớ tiếng độc huyền xưa?

(Trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục)

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Kẻ phiêu lưu truyền thông săn lùng sinh vật lạ!



Có khá nhiều phim hoạt hình nổi tiếng, hấp dẫn cả người lớn lẫn trẻ em, nói về những “sinh vật kỳ lạ” và những kẻ phiêu lưu, hám lợi quyết săn lùng những sinh vật này. Từ những lão già “săn để bán” những chú Marsupilami hay “Xì trum” đến những tay đi săn “quái vật” đem về nhốt vào lồng sắt và bán vé trong các bộ phim Mỹ lấy cảm hứng từ “Người đẹp và quái thú”. Tất cả chỉ có một mục đích duy nhất: Tiền!

Hiện tượng “ca sĩ” Lệ Rơi um sùm mấy ngày nay trên truyền thông Việt phải chăng cũng tương tự như vậy? Khi mà những “cướp hiếp giết”, “showbiz”, chân dài, ngoại tình, cực khoái… bắt đầu nhàm chán, trong lúc săn lùng những thứ có thể câu view kiếm tiền, họ đã “vớ được” một cái gì đó là lạ và nhanh nhạy hiểu rằng cái là lạ đó có thể đẩy lên thành “quái lạ” và nhốt vào cái lồng truyền thông, sau đó bán vé thu tiền với những ai thích những chuyện nhảm nhí!

Và anh nông dân ngờ nghệch kia chỉ một chốc đã trở nên nổi tiếng, giờ đây khi đã nắm được anh trong tay, truyền thông đang dắt anh ra khỏi cánh đồng, khoác vào anh hai chữ ca sĩ không dùng ngoặc kép và tiếp tục làm um lên bằng những… liveshow ca nhạc! Thực ra ở bất kỳ một đất nước nào đó trên trái đất này, chuyện truyền thông tạo scandal khi mà mọi chiêu trò đã nhàm chán và người ta không còn gì để xem, để nghe, để đọc là bình thường, nhưng với Việt Nam nó là bất thường.

Đã hai tháng từ khi Trung Quốc kéo giàn khoan vào Biển Đông, trắng trợn xâm lăng đất nước từ phía biển. Tàu đã chìm, ngư dân đã chết, bóng ma nô lệ hoặc chiến tranh đang lơ lửng trên đầu, tất cả những người dân Việt có lòng với quốc gia đều ưu tư, bế tắc trước sự dùng dằng quá đáng của người cầm quyền. Những cuộc biểu tình nổ ra, bạo loạn một cách khó hiểu và sau đó là cấm, đàn áp… Sao truyền thông không phân tích điều này? Còn nói về cuộc sống thì có bao điều bức xúc. Giá điện được cho rằng “không tăng” thực ra là một lời nói dối trắng trợn, công dân bị côn đồ đánh chết khi cự cãi với cảnh sát giao thông, nông dân điêu đứng vì sản phẩm làm ra không bán được… Bao nhiêu điều như vậy và những điều nóng sát sườn, ảnh hưởng đến miếng cơm, manh áo và cả sinh mạng người dân hằng ngày tại sao không khai thác, tại sao không hỏi Ban Tổng giám đốc tập đoàn điện lực Việt Nam về những giả dối mà họ xoen xoét vừa qua, sao không điều tra vì sao giá xăng dầu cao ngất ngưởng? Ở đây báo chí được định hướng tạo scandal hay muốn kiếm tiền từ những chuyện tào lao?

Quay lại chuyện anh nông dân có “nghệ danh” Lệ Rơi. Hiện mảnh lưới truyền thông đã trùm kín anh thành một cái lồng và tùy thích di chuyển. Rồi như những điều  nhảm nhí khác, công chúng dễ dãi sẽ sớm quên đi. Anh có ý thức mình là một “sinh vật lạ” của họ hay không cũng không quan trọng, bởi như phần lớn thanh niên Việt Nam bây giờ, sống không lý tưởng, xem phim nhảm, đọc ngôn tình Trung Quốc và thích tham gia vào chuyện thị phi là màu sắc chủ đạo.

Tôi không bi quan, nhưng cái gam màu ảm đạm đó là thực tế đất nước hôm nay và góp phần cho nó tối hơn là truyền thông được cấp phép!


Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

rượu buồn



tặng D.N.và L.

một ngày có những điều buồn quá
rượu say về lạc mấy nẻo đường
em ạ, những cung sầu hãy mở
để giữ chút tình bạn tứ phương

bạn ta hào sảng ca như khóc
trả tiền dăm đợt nhậu như không
nước mắt thương thân mình thương bạn
thương má hồng phai giữa bụi hồng

đời loạn còn bao lòng khoáng đạt
còn ai chia sẻ những u tình
còn ai tay nắm tay ngồi hát
bật một tiếng cười ngạo nhục vinh!

em ta tiếng hát buồn như nấc
tiếng hát buồn như tuổi ấu thơ
tiếng hát buồn như đời dang dở
thôi vội vàng chi phía mịt mờ

ta nắm tay em choàng vai bạn
nghe thương như thể thịt da mình
một ngày buồn quá khô nước mắt
vẫn hẹn nhau về nẻo phục sinh

4. 2014


HOA CÔNG CHÚA



Từ nhà trọ đến trường, anh phải đi bộ chừng năm trăm mét. Đây là năm đầu anh đi dạy khi được bổ nhiệm về một trường trung học tại một xã cách xa thành phố. Một buổi sáng, khi đã bắt đầu đi dạy khoảng ba tuần, anh phát hiện nơi giữa chặn đường ngang qua căn nhà rộng trồng cây ăn trái, thơm ngát một mùi hương lạ.

Chắc là hương thiên lý. Đầu tiên anh nghĩ vậy nhưng khi để ý anh chỉ thấy một giàn hoa giấy trước sân, đang nở những chùm đỏ rực. Mà hoa giấy làm gì có hương? Từ hôm đó, anh thường đi chậm khi ngang khu vườn đó, nó được ngăn cách với con lộ bằng một hàng rào bông bụp thấp, cắt tỉa gọn gàng. Xung quanh khoảng sân rộng lót gạch tàu rợp mát bóng cây. Nhưng bưởi, cam đã cuối mùa, không thấy ra hoa, cái mùi hương này lại rất dịu dàng và lạ lùng, nhìn khắp vẫn không biết từ đâu… Một buổi xế chiều về sớm vì không có giờ dạy, anh nhìn thấy bên hông nhà có một cô gái trẻ, ngồi sau chiếc máy may với mái tóc dài mượt mà. Cái mùi hương đó vẫn phảng phất dịu dàng, cô gái bất chợt nhìn lên, thấy anh cô vội quay đi như mắc cỡ…

Anh chủ nhiệm lớp 7, học trò miền quê hiền lành, lễ phép… những tiện nghi công nghệ chưa bùng nổ, không thấy em nào xài điện thoại di động dù ngoài giờ học…  nơi anh ở trọ là căn phòng nhỏ của một đồng nghiệp trong khi chờ nhà trường sắp xếp nơi ở cho giáo viên từ xa đến… Một hôm có cô gái trẻ đến tìm anh tại trường buổi sáng. Vừa thấy mặt cô anh giật mình, đó là người con gái tóc dài ngồi sau chiếc máy may của khu vườn ngát hương.

Cô gái hơi ngượng ngùng: “Em đến xin phép thầy cho Minh Thu nghỉ học một bữa, nó bị sốt nặng”.- Minh Thu là học trò anh, cô bé rất ngoan, chăm chỉ… “Em là chị hai của Minh Thu”. Rồi cô ra về, anh nhìn theo cái dáng thanh mảnh dịu dàng với mái tóc dài được buộc bằng một sợi dây đỏ cho đến khi cô khuất sau cổng trường, thì ra cô gái đó là chị của học trò anh. Khi Minh Thu đi học lại, anh hỏi: “Nhà em có hoa gì mà thơm vậy?” “Ở đâu, thầy?” “Trước sân, thầy đi ngang qua đó nghe thơm lắm” “À, em biết rồi, cây công chúa đó thầy, sát hàng rào” “Công chúa?” “Hihi, dạ”.

Từ ngày đó mỗi lần đi ngang hàng rào nhà Minh Thu anh lại nhìn vào vì biết mùi hương đến từ đâu. Đó là một cây thân gỗ, khá cao, vỏ cây màu xám trắng, nhánh ngang um tùm với những chiếc lá dài màu xanh sáng. Những chùm hoa quăn queo, màu vàng ánh lục trông không đẹp nhưng từ đó tỏa ra một mùi hương dịu dàng, lạ lùng, bổi hổi. Cô gái tóc dài, chị của học trò anh giờ cũng thường ra ngồi may bên hông nhà, rất nhiều khi ngước nhìn lên thấy ông thầy trẻ đi ngang, cô đã gật đầu chào, mắt như cười, má như hồng mắc cỡ…

Tết đến, nhà trường được nghỉ dài ngày, anh quay về thành phố nhỏ của mình mang theo một mùi hương. Giờ thì anh đã biết Hoa công chúa có danh pháp là ylang- ylang, một loại cây thuộc chi Cananga, người Bắc gọi là Hoàng lan và rất hiếm thấy ai trồng ở miệt vườn miền Tây nên chính anh cũng không biết trước khi tra cứu. Sau kỳ nghỉ, anh trở lại trước một ngày. Buổi chiều dù trường chưa mở cửa, anh vẫn muốn đi ngang khu vườn đó. Con đường nhỏ dọc bờ sông sau tết vẫn còn rất nhiều cúc vạn thọ nở trên những luống đất màu mỡ. Gần đến nhà Minh Thu anh bỗng khựng lại, chiếc cổng gỗ sơ sài hôm nào bây giờ đang kết hoa giấy và trang trí cổng vòm bằng những buồng đủng đỉnh. Khi anh đi đến gần, anh nhìn thấy một tấm bảng đề hai chữ “Vu Qui” treo phía trên. Lướt qua chiếc cổng anh cố nhìn vào trong, có vẻ đám cưới đã diễn ra, nhiều thanh niên đang dọn dẹp bàn ghế, dụng cụ và chuẩn bị tháo rạp cưới bằng vải bạt… Sát bên hàng rào, cây công chúa đã bị chặt bỏ, cành lá được xếp gọn một góc, có lẽ nó bị đốn vì người ta cần một khoảng trống che rạp cưới…

“Hôm qua thầy nhìn thấy nhà em che rạp, đám cưới ai vậy Minh Thu?” “Chị hai em đó thầy, tại nghỉ Tết chứ hông ba em mời thầy rồi” “Sao mới ra giêng mà chị em lấy chồng sớm vậy?” “Dạ, tại chồng chị hai cần về bên đó, ổng người Hàn Quốc”…

Cuối buổi, cô học trò nhỏ để một cái gói giấy trên bàn của anh. Anh mở ra, nhìn thấy những chiếc hạt màu đen như hạt mãng cầu, một dòng chữ học trò nắn nót: “Hạt của cây công chúa, em tặng thầy”.

(Trong tập Tạp bút Đàn ông, đàn bà, mọi thứ...)


KHOẢNG ĐỜI NGỤ CƯ



Ngày mà ông ta đến làm kẻ ngụ cư trong cái thị trấn bé nhỏ thuộc vùng đồng bằng này, không ai nghĩ rằng ông ta sẽ ở lại suốt đời.

Đó là một ngày cuối mùa nước nổi, những cơn mưa đêm chuyển dần về sáng còn rơi rớt thưa thớt làm không khí se se một chút lạnh hiếm hoi của vùng đất nhiệt đới. Ông ta đến vào buổi chiều trên chiếc tàu đò cuối  cùng từ thành phố về. Những hành khách chung chuyến đò cùng ông hôm ấy không để ý gì lắm đến một ông già bé nhỏ tuy cử chỉ và cách ăn mặc chỉ rõ rằng ông ta là một thị dân chính cống. Sáng sớm hôm sau, khi buổi chợ sáng bắt đầu đông đúc lên, người ta mới chú ý đến ông đang ngồi ở một góc chợ, trước mặt là chiếc bàn gỗ thấp nhỏ trên đó đặt một bộ đồ nghề nhổ răng bằng kền sáng giới được trưng bày một cách cố ý bên cạnh một tờ giấy bìa cứng viết toàn chữ Tây bọc giấy kiếng chứng nhận ông ta từng tốt nghiệp bác sĩ nha khoa ở một trường đại học xa tít mù nào đó tận hải ngoại. Ngoài ra còn có một cái bảng nhỏ – loại bảng mà các cô cậu bé học trò sử dụng trong lớp học – viết một dòng phấn trắng “Nhổ và khám răng”.

Ngày hôm đó dân thị tứ đặc biệt chú ý bởi một biến cố mà phần nào có liên quan đến ông ta. Trong ngày hôm đó, ông ta chỉ có một người khách duy nhất, một người mẹ trẻ đem con tới nhờ ông nhổ cho cậu bé lên năm mấy chiếc răng sâu. Không một ai, tất nhiên cả người nha sỹ còn mới toanh với dân xóm chợ ấy biết được rằng đó là lần cuối cùng người thiếu phụ kia được săn sóc con mình. Người thiếu phụ đó là Hoa, kẻ đã làm dậy lên những lời xì xào vì một cuộc ngoại tình chưa bao giờ xảy ra trong thị trấn. Người mẹ dắt con đến khi chợ sáng đã thưa và nói với người nha sỹ rằng mình muốn ông ta khám cho toàn bộ hàm răng của con trai mình và nhờ ông nhổ cho thằng bé những chiếc răng nào hư. Khi khám sơ qua hàm răng sữa của cậu bé đang run rẩy vì sợ, con người vừa mới đến bỗng nói với người thiếu phụ một câu tưởng như không dính dáng gì đến nghề nghiệp của mình: “Nó rất nhạy cảm”. “Ông muốn nói về những chiếc răng?” – Người thiếu phụ hỏi lại – “Không, tôi đang nói về tâm hồn của những chiếc răng!” – Người nha sĩ trả lời.

Đêm hôm ấy người thiếu phụ kia uống hết nửa chai thuốc rầy và chết trên chiếc vỏ lãi chạy nhanh trong lúc người ta chuyển chị từ trạm cấp cứu lên bệnh viện tỉnh. Cái chết của người thiếu phụ ấy được cho là một vụ đầu độc chớ không phải tự tử và những lời đồn lan rộng đến mức công an điều tra trên tỉnh phải về để giám định pháp y. Khi thu nhập chứng cứ, công an cũng biết rằng một trong những người mà người thiếu phụ kia tiếp xúc lần cuối là ông nha sỹ mới về. Ngay trong chiều hôm đó ông được mời về trụ sở công an thị trấn để lấy lời khai. Trụ sở ấy được đặt trên tầng một của tòa lâu đài còn sót lại của một điền chủ người Pháp xưa kia mà dân địa phương gọi là Lầu Trắng vì nó được quét vôi màu trắng.  “Tôi tên là Trần Hoàng Lê, tức Ba Lê, hành nghề khám và nhổ răng. Đây là bằng cấp của tôi!”. Tờ giấy cứng ép nhựa được chuyển cho người công an điều tra nhưng chắc anh ta mù tịt về thứ chữ ghi trên đó nên chuyển cho vị bác sỹ pháp y cũng đang ở trong phòng. Ông này cầm lên săm soi, đọc thật chậm rồi trả lại mà không nhận xét gì. Sau đó người ta hỏi ông vài câu về khoảng thời gian người thiếu phụ đưa con trai đến khám răng ngày hôm qua rồi cho ông ta về với lời nhắc nhở ông phải làm đơn gửi lên chính quyền thị trấn để được tạm trú và hành nghề.

Tới chiều người ta thấy ông ngồi uống cà phê đen trong cửa hàng cà phê duy nhất của phố chợ cùng với người chủ căn nhà mà ông ta ở nhờ, và im lặng như đang lắng nghe câu chuyện đã được kể đi kể lại hàng bao nhiêu lần về chuyện tình tay ba dẫn đến kết cục bi thảm vừa xảy ra. Người ta bàn tán rằng không thể truy tố người chồng vì anh ta có bằng chứng ngoại phạm rõ ràng. Cái ngày mà vợ anh ta, sau khi đưa con đi khám răng về rồi không hề đặt chân ra khỏi nhà cho đến đêm xuống và kết liễu đời mình bằng thuốc độc trừ rầy thì anh ta đang ở tại cơ quan của mình trên tỉnh. “Chính tòa án lương tâm sẽ xử hắn!”. Người ta nhất trí với ý kiến ấy vì ai cũng biết rằng trước đây hơn một tháng khi bắt gặp quả tang vợ mình ngoại tình với người yêu cũ hắn đã dùng súng để khống chế người thanh niên kia và lấy của anh ta một số tiền (khi tôi kể lại câu chuyện này thì đồng tiền đã trượt giá trong suốt gần hai mươi năm nên tôi thấy không cần thiết phải nêu lại chính xác số tiền là bao nhiêu). Anh ta dùng chính số tiền ấy để tiếp tục khống chế và nhục mạ vợ trong từng bữa cơm sau đó và kết cục bi thảm ra sao thì ai cũng biết.
“Anh Ba nghĩ sao về câu chuyện này?”, người bạn uống cà phê hỏi như vậy và ông nha sĩ trả lời rất nhanh: “Đàn bà là cả một bi kịch”; “Nghĩa là sao?”, người hỏi lại là một kẻ ít chữ nghĩa đến nỗi anh ta không hiểu chữ “bi kịch” là gì. “Tôi không muốn nhắc đến cái thứ ấy!”. Những người ngồi đủ gần để có thể nghe được cái cách gọi khinh miệt đó hầu như đều trố mắt nhìn người ngụ cư mới kia. Nhưng khi câu chuyện trên được lan truyền thì người ta đoán già đoán non rằng ông ta hẳn là một người đã bị đàn bà chơi một vố đau đến nỗi phải hận thù tất cả bọn họ?

Thế nhưng, lời đồn ấy lại có tác dụng như một cách quảng cáo cho nghề nghiệp và tên tuổi của ông ta. Những năm đó, trong một thị trấn nhỏ heo hút khó mà tìm ra được một ông bác sỹ – ngay cả những bác sỹ chuyên tu từ y tá lên – cho nên, việc một người đã tốt nghiệp nha khoa từ một Đại học đường bên tây về đây đi nhổ răng dạo là chuyện cực kỳ hiếm thấy, và bởi giá cả mà ông ta đòi cũng khá rẻ nên những người sống trong và quanh khu vực thị trấn bắt đầu nhớ ra là mình cũng có một hoặc nhiều chiếc răng có vấn đề. Vậy là người ta ùn ùn kéo đến vào những buổi chợ sáng. Người thì muốn được khám và nhổ răng cho chính mình, kẻ thì dắt con cháu theo đến nỗi những ngày đông khách công việc ấy phải kéo dài đến tận trưa và để tránh nắng, người ta phải nhắc chiếc bàn nhỏ để dụng cụ nha khoa vào một mái hiên lợp bằng lá dừa nước của cửa hàng cà phê quốc doanh với sự đồng ý của bà cửa hàng trưởng, một người luôn quạu quọ vì đau răng!

Chỉ vài tuần sau, ai cũng biết và gọi ông ta là Ba Lê theo kiểu Nam Bộ một cách xuề xòa, thân mật. Người đồng bằng cạn nghĩ nhưng tấm lòng thì rộng. Người ta sẵn sàng nhận bất cứ người nào vào cộng đồng của mình một khi người đó cần một chỗ để sống và không làm hại đến ai, bất kể người ấy từ đâu tới và có quá khứ như thế nào. Tấm bằng ép nhựa đã được cất đi, chỉ có tấm bảng nhỏ viết dòng chữ “Khám và nhổ răng” là vẫn còn và được viết lại thật rõ ràng mỗi khi bị nhòe.

Thời gian đi qua, giờ thì “Ba Lê nhổ răng” đã là một thành viên chính thức của thị trấn. Chính ông ta là người đã giúp cho mọi người, nhất là những đứa bé biết cách chiến thắng nỗi sợ hãi trước những chiếc kềm bằng kim loại khi nó đưa vào, đụng tới cái vùng nhạy cảm nhất là những chiếc răng đau. Mọi người quen dần hình ảnh ông già ăn mặc lịch sự đến kiểu cách nhưng ốm nhom, sáng sớm là đã chỉnh tề ngồi sau chiếc bàn thấp và tận tụy đúng với chức danh thầy thuốc khi làm việc.

Mấy năm lại trôi qua, thị trấn vùng sâu vẫn không có gì thay đổi ngoài những chiếc răng đau của mọi người đã lần lượt được bàn tay khéo léo của Ba Lê chữa lành hoặc nhổ bỏ. Bà cửa hàng trưởng cửa hàng “cà phê quốc doanh” giờ đã thôi quạu quọ và sẵn sàng ra lệnh cho thu ngân miễn tiền những ly cà phê đen sáu mươi phần trăm bắp rang cháy trong những ngày Ba Lê ế ẩm không có khách. Dù vậy, không một ai biết thêm gì về cuộc đời riêng trước đây của ông ta và người ta phải tìm cách lấp cho đầy sự tò mò của mình bằng cách đoán non đoán già rằng ông ta hẳn đã từng có một cuộc sống giàu có, vì những thói quen phong lưu của một người thành phố ở tầng lớp trên mà ngày ấy ông vẫn giữ như luôn bỏ áo trong quần, chải đầu tươm tất, nói năng hoà nhã nhưng khách sáo… đã trở thành quen thuộc và không còn làm cho những người xung quanh, vốn xuất thân từ ruộng vườn, thấy rườm rà nữa. Thế nhưng cái khoảng bình lặng của cuộc đời ngụ cư, ngắn ngủi như một dấu lặng trên khuôn nhạc đã đến lúc chấm dứt. Một buổi xế chiều của một ngày cuối mùa khô, dân thị tứ lại nhìn thấy hai người khách ăn mặc theo lối thành thị xuất hiện. Đó là hai người phụ nữ nhìn qua thì không thấy có sự chênh lệch lắm về tuổi tác nhưng qua cách xưng hô người ta biết họ là hai mẹ con. Hai người phụ nữ ấy đến từ một chiếc đò có mui lạ hoắc, chắc là loại đò dọc thuê bao từ thành phố. Họ hỏi thăm ngay từ người đầu tiên mà họ gặp là một phụ nữ bán thuốc lá lẻ đầu cầu tàu về một người đàn ông tên Lê. “Ba Lê nhổ răng phải không?” chị bán thuốc lá lẻ hỏi – “Nhổ răng?” người phụ nữ trẻ có vẻ ngạc nhiên hỏi lại như vậy nhưng người mẹ đã nhanh chóng xác nhận “Đúng rồi, ông ta từng... đúng là ông ấy. Chị làm ơn chỉ chỗ giùm chúng tôi!”. Họ được chỉ đến một căn nhà lá nhỏ bé nơi mà Ba Lê đã xin ở nhờ từ ngày đầu tiên. Giờ ấy, ông ta đã thu dọn đồ đạc gọn gàng và như thói quen từ ngày mới tới, ông ta ngồi trên chiếc ghế bằng tre, đốt thuốc và im lặng nghĩ ngợi một điều gì đó cho đến tận buổi cơm chiều. Tiếng con chó phèn sủa ăng ẳng làm Ba Lê ngước nhìn ra cổng, vừa lúc ấy hai người phụ nữ kia cũng lom khom nhìn vào. Chỉ một giây bất động ngắn ngủi rồi người ta thấy Ba Lê đứng vụt dậy cùng với tiếng kêu như thét của người phụ nữ trẻ. Nhưng ngay lập tức, người đàn ông quát lên:
- Ai cho phép các người tìm tới đây? Các người còn đeo đuổi theo tôi làm gì?
- Ba, ba ơi! Tiếng người phụ nữ trẻ rền rĩ nhưng Ba Lê đã quay ngoắt lại, bước vào nhà và nói với người chủ nhà trẻ đang há hốc miệng ra nhìn:
- Anh nói là tôi không muốn nhìn mặt họ. Hãy mời họ ra khỏi nhà giùm tôi!
- Nhưng đó là…
- Đó đã từng là vợ và con gái tôi.
- Ba, ba ơi! Người phụ nữ trẻ lăn xả vào con người mà chị ta gọi bằng “ba” nhưng ông ta, bằng một sức mạnh đến khó tin đã vung tay hất ngã chị xuống đất. Người mẹ vội chạy đến đỡ con gái và ngước mắt lên nhìn người đàn ông, giờ trông hung dữ như con thú bị dồn đến bước đường cùng. Bà ta không khóc, chỉ nói từng tiếng một:
- Tại sao ông phải bỏ đi? Nhà cửa, tài sản là của ông. Nếu ông không thể nào bỏ qua những chuyện đã xảy ra thì chính tôi là người phải ra khỏi nhà!.
- Bà về đi. Tôi đã nói là giữa chúng ta sẽ không còn đối thoại được nữa!
- Ông nhất định không về?
Người đàn ông im lặng nhưng đó không phải là sự im lặng vì do dự mà chính là một câu trả lời mang tính khẳng định. Người con lại khóc nấc lên:
- Ba ơi, con với má đã tìm ba khắp nơi rồi, cuối cùng má mới nhớ ra nơi đây, ba về với má đi ba ơi!
Với khuôn mặc đã lấy lại vẻ thường nhật, người đàn ông im lặng quay lưng lại và bước dần vào trong. Có lẽ hiểu ra đó là một dấu hiệu cương quyết, người đàn bà gào lên:
-  Ông là một kẻ vô tình, một kẻ vô tình với vợ con mình. Ông không về tôi sẽ nói... sẽ nói vì sao…
Ngay lập tức người đàn ông quay lại, khuôn mặt biến dạng trông thật dữ dội, ông thét lên:
- Bà không được nói ra điều đó. Tôi cấm bà trở lại đây. Tôi thế nào thì mặc xác tôi!
Hai người đàn bà giật lùi lại trước vẻ dữ tợn của người đàn ông. Người con nói thầm gì đó với mẹ và trong khi ông ta một lần nữa quay lưng lại thì họ nuốt nước mắt dìu nhau ra cổng. Được một đoạn ngắn, họ dừng lại, ra hiệu cho người chủ nhà lúc ấy vẫn còn ngơ ngác đứng trên bậc thềm và khi anh ta bước ra, người phụ nữ xưng là vợ Ba Lê, trao cho anh một gói giấy. Anh ta rụt tay lại không nhận nhưng người đàn bà nài ép, và một lát anh ta mới ngại ngần cất gói giấy kia vào trong túi. Đó là một món tiền khá lớn mà người đàn bà gửi lại cho chồng với hy vọng giúp ông sống dễ dàng hơn tại một nơi mà bà nhận xét là “kinh khủng”!

Với vẻ mặt nặng nề buồn bã, hai mẹ con rời khỏi thị trấn nhưng mấy tháng sau, khi một lần nữa họ quay lại thì Ba Lê đã không còn ở căn nhà lá cũ ấy nữa. Người chủ nhà trẻ đón họ và lấy ra cái gói giấy bạc trước kia anh ta lỡ nhận và nói: “Tại dì mà chú Ba ổng giận ổng bỏ đi rồi. Cháu trả lại dì!” Người đàn bà ngồi lặng đi một lát, có vẻ không muốn nhận lại số tiền kia nhưng rồi bà ta lấy giấy viết ra một cái địa chỉ rồi nói: “Thôi được, anh giữ cái này và nếu ông nhà tôi có gặp chuyện gì cần đến tiền bạc chẳng hạn, thì anh nhắn giùm!”. Rồi bà hỏi:
- Ông ta chuyển đến chỗ mới gần đây không?
- Ở đầu chợ, nhưng cháu nghĩ dì không cần…
- Tôi hiểu, tôi sẽ không cố gặp như lần trước nữa.
- Lần trước khi dì và chị về thì chú Ba ổng nhậu say mèm, đến nỗi khuya cháu phải đưa lên giường! Nhưng sáng hôm sau, khi cháu nói chuyện gói tiền này thì ổng dọn đi liền, năn nỉ cách nào cũng không chịu.

Hai người đàn bà lại ra về như lần trước với lời dặn là thỉnh thoảng họ sẽ trở vô nhưng chắc họ không hiểu rằng chiều hôm đó, và trong suốt thời gian sau này cho đến khi chấm dứt cuộc đời ngụ cư của mình, Ba Lê đã dùng rượu để lãng quên họ và chắc chắn cái nỗi nhớ, nỗi ám ảnh… là rất lớn bởi người ta thấy càng về sau ông càng tăng liều lượng rượu lên và có những hôm ông say đến nỗi không còn biết đường về và nằm lê la ở một góc chợ mà xổ ra hàng tràng tiếng Tây rồi nghêu ngao hát chỉ có hai câu:
Bông sen nở về mùa hạ
Bông cúc nở về mùa thu
…….

Thế nhưng không một ai không ngạc nhiên bởi có những đêm, một vài người đi tàu khuya vẫn còn nhìn thấy ông say và nằm than thở hay chửi rủa gì đó một mình bằng tiếng Tây tại một góc cửa hàng thì sáng ra đã thấy Ba Lê đàng hoàng áo bỏ trong quần, đầu tuy chỉ còn rất ít tóc nhưng vẫn chải láng, ngồi nghiêm chỉnh sau chiếc bàn thấp của mình vẫn với chiếc bảng nhỏ viết bằng phấn trắng: “Khám và nhổ răng”.

Phải nói trong cái cơ thể mảnh mai kia chắc hẳn tiềm ẩm một sức khoẻ dẻo dai bởi còn nhiều năm sau Ba Lê vẫn đêm đêm uống rượu một mình còn sáng ra thì nhổ răng để có tiền đêm sau uống nữa. Rồi cũng như cái dạo ông mới đến, người ta cũng quen dần với cung cách sống cho mau chết của ông ta sau ngày những người phụ nữ kia tìm đến. Và không một ai ngạc nhiên khi một buổi sáng người ta phát hiện ông đã chết còng queo dưới mái hiên của chiếc cổng tòa lâu đài còn sót lại, người ta cho là ông bị trúng gió nhưng cũng hơi lấy làm lạ là tại sao ông ta lại chết ở dưới cổng tòa nhà cũ kỹ như một phế tích kia trong khi nó cách cái góc ông thường ngồi uống rượu một mình đến mấy trăm mét? Nhưng dù gì thì Ba Lê đã chết và cái tin đó làn truyền rất nhanh. Người chủ nhà mà ông ta ở nhờ những năm sau ngay lập tức cùng với mấy thanh niên của Hội chữ Thập Đỏ thị trấn đến khiêng xác ông về. Khi lục tìm tất cả những di vật ít ỏi Ba Lê để lại, ngoài các món đồ nghề người ta không tìm thấy được gì nữa, dù là một tờ giấy nhỏ hay chút ít tiền lẻ, chắc là ông đã vét đến đồng tiền cuối cùng để mua bữa rượu cuối cùng.

Người ta nhanh chóng dựng rạp để chuẩn bị cho đám ma, một sự chuẩn bị chu tất theo đúng phong tục như bất kỳ một đám ma nào khác trong vùng, chỉ khác là không có ai là con cháu của người đã khuất đang hiện diện để đội khăn tang và mặc áo sô. Khi tiến hành liệm xác người ta mới phát hiện rằng bộ răng giả mà Ba Lê lúc nào cũng cẩn thận ngâm thuốc sát trùng, chùi rửa kỹ càng đã không còn nữa. Con người, có lẽ là dành suốt đoạn cuối cuộc đời cho công việc chữa chạy và nhổ bỏ những chiếc răng hư giờ không còn lại một chiếc răng nào cho chính mình. Thế nhưng những người già cả nhất trong khu vực nói rằng chưa bao giờ có một đám tang nào đông hơn.

Đó là một ngày mưa dầm vào mùa nước nổi. Khi cái thân xác nhẹ tênh như không còn vướng chút tục luỵ nào đã nằm yên vị trong quan tài, lợi dụng thời gian tạnh giữa cơn mưa buổi chiều, theo đúng phong tục địa phương, trước khi chôn cất, người ta tổ chức một cuộc dạo chơi cho người không thể đi bằng chính đôi chân mình nữa. Chủ một chiếc ghe lớn không mui, chuyên chở hàng muớn với sức chứa hai mươi tấn, tình nguyện làm công việc ấy. Vậy là quan tài được chuyển một cách thận trọng xuống ghe với hai hàng đạo tỳ, mặt quệt đầy lọ chảo, hò hét, nhảy múa đóng giả quỉ vô thường để dẫn đường. Chiếc trống cái dùng riêng cho việc tang lễ được dộng từng hồi. Rất đông người theo quan tài xuống ghe, ngoài đàn ông còn có đàn bà, con gái, con nít… nhưng đông nhất có lẽ là đám thanh niên. Tất cả bọn họ lại một lần nữa nhớ ra ít nhất một lần trong đời mình đã nhờ Ba Lê nhổ răng cho. Chiếc ghe lớn lùi dần khỏi cầu tàu ra giữa dòng kinh rộng rồi chạy ngược lại với dòng nước triều cường. Cảnh vật quen thuộc hai bên bờ sông bỗng hiện ra trong một cách nhìn khác của tất cả mọi người. Trong lúc ấy, phần lớn những người đang ở trên ghe, đang đứng vây quanh để từ biệt một số phận ngụ cư chắc đều ngậm ngùi cảm thấy rằng tất cả, tất cả những sinh linh dưới vòm trời này đều là những khoảng đời ngụ cư gộp lại, rồi đây đều sẽ ra đi hay trở về tùy theo quan niệm sống nhưng không một ai vượt thoát kiếp phù du của cõi người…

Trong khi chiếc ghe chở quan tài đã đến ranh giới cuối cùng của ngoại vi thị trấn và chậm hẳn lại, chuẩn bị quay về thì người ta thấy từ phía trước mặt, trên con kinh dài và rộng một chiếc bo bo xé nước lao tới, nó chạy ngược từ thành phố về và chạy nhanh như thể phía sau nó là một tai họa đang đuổi theo. Khi chiếc bo bo đến gần, nó giảm tốc độ và người ta nhìn thấy ngoài người ngồi lái, không ai khác hơn là vợ và con gái Ba Lê, hai người phụ nữ mà tất cả mọi người đều tin là nguyên nhân đẩy ông ta vào cuộc sống lang thang, lây lất trong những ngày cuối đời. “Cuối cùng thì họ cũng đến”. Người chủ căn nhà đầu tiên đón Ba Lê vào ngụ cư thốt lên như vậy. Chắc anh ta là người đã báo tin dữ này cho gia đình người quá cố. Chiếc ghe dừng lại giữa dòng kinh rộng chờ chiếc bo bo. Hai người phụ nữ vừa nhìn thấy cảnh trước mặt đã òa lên khóc và người lái bo bo phải khéo léo lắm mới cặp sát nó an toàn vào thành ghe được. Rất nhiều những cánh tay đưa xuống đỡ hai người phụ nữ kia lên và hai chiếc khăn sô được chuẩn bị từ lúc nào đã nhanh chóng được bịt lên hai mái đầu tóc vẫn còn đen dày. “Bây giờ thì ông ấy đã đầy đủ cả rồi!”. Một người nào đó thốt lên như vậy khi chiếc ghe lớn quay đầu chạy về phía nghĩa trang. “Ngàn lần cảm ơn tất cả bà con. Tôi xin đồng ý với chồng tôi là để ông yên nghỉ ngay chính quê nhà mình!”. Người phụ nữ kia vừa khóc, vừa xá tất cả mọi người nhưng cái câu bà ta vừa nói ra làm mọi người cực kỳ ngạc nhiên. Nhiều câu hỏi được đặt ra hướng về phía người đàn bà. Cô con gái thay mặt mẹ mình lấy từ trong túi ra một tấm hình đã rất cũ và nói trước khi chuyền tay cho mọi người cùng xem: “Đây là gia đình ông bà nội tôi. Ba tôi đứng ở giữa!”. Mọi người lặng lẽ chuyền tay nhau tấm hình, đó là một tấm ảnh đen trắng lấy tòa lâu đài làm hậu cảnh để chụp một gia đình gồm hai vợ chồng và ba đứa con. Đứng giữa hai cô gái trẻ là một thiếu niên mặc âu phục, những người già trên sáu mươi tuổi thốt lên: “Gia đình ông hội đồng, Ba Lê là con ông hội đồng đây mà!”. Một sự thật đã được sáng ra ngay cả cái thắc mắc tại sao Ba Lê lại chết ngay dưới cổng chính tòa lâu đài cũ. Tòa nhà ấy do một chủ đồn điền người Pháp xây lên nhưng sau đã bán lại cho gia đình hội đồng Lựu, sau năm năm tư (1954) cả gia đình ông ta đột nhiên ra đi không để lại một dấu vết nào. Xung quanh câu chuyện ấy, qua những lời xì xào người ta nghe được phong thanh thôi, là dấu vết của một cuộc ngoại tình. Thế nhưng, khi hầu như không ai còn nhớ gì đến những chuyện xa xôi ấy nữa thì giờ đây điều không thể tin được là con trai ông đã trở về để chết cô đơn trên nơi chốn mình sinh ra. Không một ai trong giờ phút ấy đặt thêm một câu hỏi nào về bi kịch gia đình của họ. Hẳn là Ba Lê có lý do để đoạn tuyệt với vợ mình nhưng nội cái chuyện ông ta chọn quê hương để trở về đã đủ cho mọi lý do.

Ngày hôm nay, khi kể lại câu chuyện này trong tâm trí tôi vẫn hiện lên hình ảnh những sợi mưa mỏng rơi xiên trong một buổi chiều châu thổ. Khi chiếc ghe lớn cặp mũi vào nghĩa trang, chiếc quan tài được chuyển lên, bỗng dưng vì một sự đồng cảm sâu xa nào đó, mọi người đi tiễn Ba Lê hôm đó đều khóc. Hòa trong tiếng gào của người con gái, là tiếng tức tưởi của người vợ, những người đàn bà đi tiễn khóc nức nở, những đứa trẻ khóc thút thít, những người đàn ông và thanh niên lặng lẽ chùi những giọt nước mắt nóng bỏng chực rơi trên gò má lạnh. Trong giờ phút ấy, nước mắt là thứ duy nhất con người cảm thấy cần thiết để hòa điệu lặng câm vào những mơ ước phù du và là thứ duy nhất để nói lên lòng thương tiếc cảm thông với Ba Lê, kẻ đã sống một cuộc đời ngụ cư ngay chính trên quê hương mình cho đến chết.

(Đã in trong tập Giữa Trần Gian và Địa Ngục)

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Tình dục với robot, những ảo vọng nhân gian!



Các nhà khoa học cho rằng trong một ngày không xa, con người có thể gọi hoặc email đến siêu thị để đặt hàng với mẫu câu đại loại như (nếu là đàn ông): “Tôi cần mẫu “nữ hoàng nội y”, hoặc (nếu là đàn bà): “Mẫu cổ điển Clark Gable còn không, nhà tôi ở số xyz, hãy bảo ông ta đến”.

Hiện nay những con búp bê dạng người, có thể quan hệ tình dục với người đã bước qua thế hệ “Real Dolls”, tức là những loại búp bê mỹ nữ chân dài chỉ có những hoạt động hạn chế mà đã chuyển sang “sexbot” (kết hợp hai  từ sex và robot). Đây cũng mới chỉ là những con robot thế hệ đầu tiên, được chương trình hóa theo những “kinh nghiệm ái ân” của nhân loại từ cổ xưa đến giờ, mục đích chính là nhằm thỏa mãn tình dục cho những người cô đơn hay thích những cảm giác mới lạ. Nhưng chính công ty Real Dolls của Mỹ đã nghiên cứu từ sextoy thành sexbot, tuyên bố họ sẽ càng ngày càng cho nó giống người nhất, không chỉ chuyện trên giường mà còn biết trò chuyện, bộc lộ cảm xúc. Hiện những phát minh này vẫn còn “thô” nhưng với tốc độ phát triển khoa học ngày nay, một giáo sư người Mỹ là David Levy, thuộc Trường Đại học Maastricht cho rằng “khoảng năm 2050, tiểu bang Massachusetts sẽ có những điều luật để hợp pháp hoá những cuộc hôn nhân giữa người với robot”.

Sau sexbots sẽ là gì? Đó có thể là những “con người giả” nhưng hoàn toàn như thật? Họ sẽ có những hành vi như chúng ta, thậm chí biết thở và bài tiết… hương thơm da thịt. Và lúc đó nếu chúng ta vẫn còn hoài nhớ về một mối tình đầu lãng mạn mà bất thành, với kỹ thuật chế tạo máy bằng in 3D, bất kỳ ai cũng có thể đặt hàng để sở hữu một người tình trong mộng với cả "nét" và cả "hương" xưa?!

Nhưng sự thật có phải “hoàn hảo” như vậy? Và hệ lụy của nó là sẽ ra sao? Liệu khi đó những giá trị hôn nhân của con người sẽ bị phá hũy khi mà vợ chồng cùng trên giường nhưng mỗi người lại đang khao khát sexbot của riêng mình bởi kỹ thuật làm tình hẳn nhiên con người không thể so bì với máy? Và như vậy những thiên thần của nhân loại, tức bọn trẻ con sẽ chẳng có cơ hội ra đời?

Không cần bi quan lắm. Triết gia, nhà văn, nhà tư tưởng Nietzche từng nói: “Trong một tình yêu đích thực, chính tâm hồn bao bọc lấy thân thể”. Dù ngày nay nhân loại đã có những quan điểm về tình yêu, tình dục khác đi, nhưng nếu không có tình yêu, thì một cơ thể được tạo tác hoàn mỹ đến đâu mà không có tâm hồn để bao bọc và tỏa sáng nó, tình dục đơn thuần chỉ là những ảo vọng của nhân gian. Tình yêu có thể xem tình dục là khởi điểm, nhưng chỉ tình yêu mới là kết tinh, thăng hoa tình dục. Những hồi ức về tình yêu, tình dục là những khoảnh khắc hạnh phúc của con người, và nếu hồi ức đó là với một con robot đã được lập trình, hẳn nó chẳng mang một chút lãng mạn nào, bởi dư vị của nó làm gì có phản bội, đắng cay, tuyệt vọng, hờn tủi, hận thù… những cung bậc dù trong tâm thức nhân loại là “khổ” nhưng là một phần không thể thiếu của một tình yêu đích thực!

Và bởi vậy, chắc chắn khi nào hành tinh này chưa bị hũy diệt từ chính sự điên rồ của con người bằng vũ khí hạt nhân hay phá hoại môi trường, hoặc những vũ khí khủng khiếp của tương lai, thì đàn ông, đàn bà của thế gian vẫn cứ tìm nhau, hút vào nhau dù sau đó có đánh mắng hay hận thù nhau!

(Trích trong tạp bút “Đàn ông, đàn bà, mọi thứ…)



Chàng chăn dê ở Cần Giờ và một thực thể huy hoàng đổ vỡ

Bờ biển bị ngăn bởi một hàng rào bằng lưới sắt cũ có nhiều dây bìm bìm đang ra hoa. Con đường nhìn ra biển với vỉa hè được lát gạch t...